Với chức năng chính là đào tạo, nghiên cứu khoa học và tư vấn dịch vụ khoa học công nghệ, trải qua 55 năm xây dựng, trưởng thành (21-10-1967 / 21-10-2022), Viện Kỹ thuật công trình đặc biệt (KTCTĐB), Học viện Kỹ thuật Quân sự không ngừng phát triển, lập nhiều thành tích xuất sắc, được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân thời kỳ đổi mới năm 2020.
Dấu ấn của đơn vị được khẳng định với nhiều "công trình đặc biệt" từ những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đến thời kỳ đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc...
Những công trình trên tuyến lửa
Trực tiếp đưa chúng tôi đến thăm các đơn vị trực thuộc, Đại tá, Phó giáo sư, Tiến sĩ Vũ Ngọc Quang, Quyền Viện trưởng Viện KTCTĐB tự hào cho biết: “Cách đây 55 năm, trước yêu cầu về lực lượng kỹ sư chuyên ngành công trình quốc phòng phục vụ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Khoa Công trình Quân sự, tiền thân của Viện KTCTĐB ngày nay. Với phương châm gắn lý luận với thực tiễn, nhà trường với chiến trường và yêu cầu thực tế của Quân đội, ngay từ những khóa đầu tiên, đơn vị đã cử học viên lên đường đi nghiên cứu chiến trường nhằm thu thập số liệu, khảo sát nghiên cứu các loại vũ khí, phương tiện và thủ đoạn đánh phá của địch, đồng thời tìm hiểu các giải pháp kỹ thuật, chiến thuật về công trình phòng thủ và chiến đấu của ta”.
Mở đầu cho các đợt thực tế nói trên là chuyến đi vào Quảng Trị (năm 1968) khảo sát, nghiên cứu về ngụy trang và bom mìn ở chiến trường của các học viên Khóa 2. Từ thực tiễn chuyến đi đã dẫn đến ý tưởng cải tiến kết cấu hầm chữ A truyền thống có gối cứng thành hầm chữ A có gối mềm, giảm tải trọng tác dụng lên công trình, được phổ biến trong toàn quân. Tiếp đó là các đợt đi thu thập, nghiên cứu những loại bom, đạn và thủ đoạn đánh phá của địch vào các trọng điểm giao thông ở miền Bắc từ Thanh Hóa đến Vĩnh Linh như cầu Hàm Rồng, cầu Cấm, Bến Thủy, ngã ba Đồng Lộc, phà Xuân Sơn... Kể về những chuyến đi này, Đại tá Nguyễn Bỉnh Chân-chủ nhiệm đầu tiên của Khoa Công trình Quân sự (1967-1976) viết trong hồi ký: “Công sự và đường hầm quân sự đều là các công trình có tính bí mật cao, nhất là lại trong thời kỳ chiến tranh nên việc xin đi thực tập và tham quan tại các đơn vị rất khó. Vì vậy, khi tổ chức các đoàn công tác, cả cán bộ và học viên đều hăng hái tham gia, chỉ lo tên mình “bị bỏ lại’. Ấn tượng nhất là đoàn 10 đồng chí của lớp công sự do Đại úy Nguyễn Kim Đức phụ trách sang tăng cường cho lực lượng thi công ở Cánh Đồng Chum (Lào) để xây dựng khu vực phòng thủ từ tháng 2 đến tháng 7-1972. Các phương án thiết kế do đoàn đề xuất được Bộ tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam tại Lào phê duyệt, tổ chức xây dựng có hiệu quả tốt, góp phần bảo vệ vững chắc Cánh Đồng Chum trong nhiều chiến dịch quy mô lớn của ta và bạn”.

Lãnh đạo, chỉ huy Viện Kỹ thuật công trình đặc biệt luôn quan tâm đầu tư, phát huy tinh thần sáng tạo của các nhà khoa học trẻ. Ảnh: ĐÌNH XUÂN
Gặp gỡ, trò chuyện với các thế hệ cán bộ, học viên của Viện KTCTĐB, chúng tôi còn được biết thêm, trong chiến dịch chống máy bay Mỹ tập kích bầu trời Hà Nội và vùng phụ cận tháng 12-1972, những cán bộ của Viện đã lặng thầm làm nhiệm vụ đặc biệt. Cách đây 50 năm, do đã có những dự báo sớm nên ngay từ khi chiến dịch chưa diễn ra, cấp trên đã giao nhiệm vụ các lực lượng làm công tác chuẩn bị, chủ động ứng phó với máy bay B-52. Trong điều kiện còn nhiều khó khăn nhưng ngay lập tức, đơn vị đã tổ chức cho cán bộ, giảng viên đi thực tế, thu thập các số liệu trong các vùng đánh phá trọng điểm, đo vẽ quy luật phân bố các dải bom B-52 để nghiên cứu về mức độ tàn phá, tính chất tản mát của bom B-52, làm căn cứ cho quy hoạch công sự trận địa. Các kết quả nghiên cứu sau đó đã được trình bày trong nhiều hội nghị và được sử dụng làm tài liệu tham khảo khi thiết kế các công trình chống tác dụng của B-52. Tiếp đó, liên tục có các đoàn học viên đi thực tập nhiều tháng liền tại Trường Sơn-Đường Hồ Chí Minh, chiến trường Trị Thiên, Đường 9-Nam Lào... với nhiệm vụ cùng đơn vị thiết kế công trình, vừa thu thập tài liệu cho đồ án tốt nghiệp, vừa phục vụ chiến đấu.
Sau năm 1975, đất nước thống nhất, song biên giới Tây Nam rồi phía Bắc bị xâm lấn, đòi hỏi Quân đội phải được bổ sung lực lượng cán bộ chuyên môn về xây dựng công trình quốc phòng, xây dựng cầu đường vượt sông, sân bay và xây dựng doanh trại. Vì vậy, các lớp học viên năm cuối thuộc các chuyên ngành của Viện tiếp tục được đào tạo và bổ sung cho chiến trường. Tiêu biểu cho thành tích nghiên cứu của Viện thời kỳ này là kết quả nghiên cứu trận địa phòng ngự tại khu Bản Phiệt, tỉnh Hà Giang. Đây thực sự là khu vực phòng thủ kiểu mẫu cho các đơn vị bộ binh phòng ngự tại khu vực rừng núi, chủ yếu là các công sự dã chiến, gỗ đất, giao thông hào. Năm 1984, tại điểm cao 820 Tràng Định-Lạng Sơn, tập thể cán bộ, giảng viên của đơn vị đã hoàn thành việc thiết kế và thi công trận địa pháo 130mm, được Bộ Quốc phòng đánh giá cao. “Quá trình nghiên cứu khoa học phục vụ chiến trường, các cán bộ, học viên của chúng tôi đều không quản ngại khó khăn, nguy hiểm, thậm chí là cả hy sinh xương máu. Tấm gương hai học viên ưu tú của Khóa 2 là đồng chí Nguyễn Chí Thành-hy sinh ở Cánh Đồng Chum và đồng chí Đào Văn Nhiên-hy sinh trên tuyến lửa Trường Sơn là điển hình”-Đại tá Vũ Ngọc Quang xúc động cho biết.
Dấu ấn thời bình
Bước vào thời kỳ đổi mới, cùng với sự phát triển của đất nước, các nhà khoa học của Viện KTCTĐB đã phát huy truyền thống và thành quả đạt được, tiếp tục cống hiến, hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao. Tìm hiểu, chúng tôi được biết, hiện nay Viện KTCTĐB chủ trì đào tạo 5 chuyên ngành bậc đại học, 3 chuyên ngành bậc thạc sĩ và 2 chuyên ngành bậc tiến sĩ phục vụ Quân đội và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Hiện nay, Viện có gần 100 cán bộ, giảng viên, nhân viên, trong đó có 12 phó giáo sư, 52 tiến sĩ; 8 giảng viên đạt danh hiệu giảng viên giỏi cấp bộ. 10 năm qua, Viện đã đào tạo được hơn 4.000 kỹ sư các loại hình, 784 thạc sĩ và 66 tiến sĩ. Tham gia các cuộc thi Olympic sinh viên toàn quốc hằng năm, học viên của Viện luôn giành thứ hạng cao.
Chỉ tính riêng giai đoạn 2013-2022, phong trào nghiên cứu của Viện đã có sự phát triển với những đột phá mạnh mẽ. Cán bộ, giáo viên trong Viện đã chủ trì và tham gia thực hiện 14 đề tài, chương trình cấp Nhà nước, 35 đề tài cấp bộ, ngành; hơn 100 đề tài cấp học viện cùng hàng chục đề tài được thực hiện trực tiếp thông qua các dự án. Trong đó, một số đề tài cấp Nhà nước đã và đang triển khai, bước đầu được nghiệm thu và hiện nay Viện đã đề nghị cho phép sản xuất loạt “0”; đặc biệt là các đề tài nghiên cứu về: Công trình trên quần đảo Trường Sa và vùng biển thuộc thềm lục địa phía Nam của Tổ quốc; công trình ngầm và công trình chịu tác dụng của tải trọng bom đạn, tải trọng đặc biệt; sân bay, đường quân sự và cảng quân sự; tương tác công trình với các môi trường... Kết quả nghiên cứu các đề tài này đã bước đầu xây dựng được cơ sở dữ liệu, đề xuất giải pháp kết cấu phù hợp phục vụ cho thiết kế và xây dựng các công trình quân sự trên quy mô toàn quốc một cách hệ thống, bài bản, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Khi được đề nghị giới thiệu về công tác tư vấn dịch vụ khoa học công nghệ của Viện, thay vì liệt kê những số liệu khó nhớ, Đại tá Vũ Ngọc Quang đưa chúng tôi đến thăm phòng truyền thống của đơn vị. Ở đó là hình ảnh về hàng trăm nhiệm vụ, đề tài nghiên cứu và các dự án mà Viện KTCTĐB đã, đang tham gia tư vấn. Đây là những minh chứng sống động, khẳng định uy tín của đơn vị trong lĩnh vực tư vấn, dịch vụ khoa học. Điều này cũng lý giải vì sao Viện KTCTĐB luôn được chọn để thực hiện nhiều nhiệm vụ tư vấn, dịch vụ khoa học cho các dự án, nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài nghiên cứu trọng điểm của Bộ Quốc phòng và Nhà nước trong lĩnh vực xây dựng, đặc biệt là các dự án thuộc lĩnh vực công trình biển, đảo. "Những năm qua, trong lĩnh vực tư vấn, dịch vụ khoa học kỹ thuật, Viện KTCTĐB đã hoàn thành tốt các nhiệm vụ tư vấn do Bộ Quốc phòng giao. Các dự án triển khai đã mang lại hiệu quả cao phục vụ quốc phòng, an ninh và phát triển kinh tế-xã hội"-Tiến sĩ Nguyễn Văn Tú, Bí thư Đảng ủy, Phó viện trưởng cho biết thêm.
Còn chúng tôi lần nào cũng vậy, mỗi khi đến thăm đơn vị đều gặp hình ảnh các nhà khoa học áo lính đang say sưa với công việc của mình mà quên cả giờ nghỉ. Tại Bộ môn Xây dựng nhà và công trình công nghiệp, chúng tôi phải “chen ngang” ít phút trò chuyện nhanh với Trung tá, Tiến sĩ Phạm Thanh Bình, Phó chủ nhiệm Bộ môn khi anh vừa kết thúc thảo luận chuyên môn với các đồng nghiệp để trở lại bàn làm việc bổ sung những thông tin mới cập nhật cho cuộc hội thảo chuyên đề sắp diễn ra. Anh tâm sự, do đặc thù công việc nên không chỉ riêng anh mà hầu hết các cán bộ của Viện đều có nhịp độ làm việc cao như vậy. “Trong công việc, nhiều khi không tránh khỏi áp lực cũng như khó khăn riêng, nhưng vượt lên trên tất cả là niềm vui và tự hào vì chúng tôi được làm công việc mình yêu thích trong một môi trường năng động, được tạo điều kiện mọi mặt nhằm phát huy sức sáng tạo của cá nhân và tập thể. Đó là động lực để chúng tôi không ngừng học tập, tự bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn và trao truyền cho các học viên của mình”-Tiến sĩ Phạm Thanh Bình tâm sự.
SONG THANH
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận