Cho đến đêm 14-1-1947, toàn đội tự vệ Duy Tân xuất kích đánh thẳng vào khu nhà Thông tin Kim Liên và bốt gác Vân Hồ. Hai bên loạn đả đến 3 giờ sáng chúng tôi mới chịu rút về. Một lúc sau thì đại bác tầm xa của chúng câu về đúng khu vực trận địa của chúng tôi. Tiểu đoàn truyền lệnh: Tất cả ra vị trí chiến đấu. Trong lúc đó súng cối và đại bác của quân Pháp vẫn rót không ngừng vào khu vực trận địa c
(Tiếp theo và hết)
Đội gồm 6 tiểu đội:
- Tiểu đội 1: Do Phạm Đường Bệ làm tiểu đội trưởng, Nguyễn Văn Xính làm tiểu đội phó.
- Tiểu đội 2: Do Vũ Văn Tân làm tiểu đội trưởng, Hoàng Thái làm tiểu đội phó.
- Tiểu đội 3: Do Đặng Văn Thái làm tiểu đội trưởng, Nguyễn Văn Lượng làm tiểu đội phó.
- Tiểu đội 4: Do Quách Đình Hạnh làm tiểu đội trưởng, Phạm Quốc Bảo làm tiểu đội phó.
- Tiểu đội 5: Do Phạm Văn Lục làm tiểu đội trưởng, Nguyễn Ngọc Sửu làm tiểu đội phó.
- Tiểu đội 6: Do Nguyễn Văn Tửu làm tiểu đội trưởng, không có tiểu đội phó-tiểu đội này gồm số anh em tự vệ khu Bảy Mẫu, sau bảy ngày đêm chiến đấu trong nội thành, trừ thương vong số còn lại gọn một tiểu đội.
Ban chỉ huy đội tự vệ Duy Tân gồm có: Hoàng Giáp, đội trưởng; Phạm Văn Đặng, đội phó; Hoàng Tường Tri, chính trị viên. Quân số (cầm súng) của đội là 96 người. Ngoài ra còn có bốn em liên lạc ở lứa tuổi 13, 14. Đội còn phụ trách tới 35 chị em cấp dưỡng, cứu thương… (tổng cộng 135-hơn quân số một đại đội).
Trang bị của đội gồm có: 23 khẩu súng trường, 4 khẩu súng săn và 1 khẩu tiểu liên Stell, còn lại là gươm, mã tấu, lựu đạn.Mọi việc của đội sau khi tổ chức lại vẫn diễn ra bình thường, suôn sẻ. Anh em cảm thấy yên tâm. Vấn đề “trở thành bộ đội” hóa ra cũng không có thay đổi gì đáng kể: vẫn là anh em “cánh học trò Hà Nội” sống với nhau, “thằng” chỉ huy, “thằng” lính… buông súng ra là khoác vai nhau “cá mè một lứa” tranh luận thoải mái, kể cả khi vào trận cũng chỉ cần một cái phẩy tay ra hiệu… là xong.
Chừng 10 ngày sau, Đội tự vệ Duy Tân nhận được lệnh chuyển sang Ngã Tư Vọng, nhập vào quân số của đại đội 4, tiểu đoàn 64, Đội tự vệ Duy Tân từ nay mang số hiệu đơn vị là trung đội 1 thuộc đại đội 4 và vẫn được giữ nguyên sáu tiểu đội cùng với 96 tay súng như cũ.
Và rồi, một sự may mắn không ngờ: Đại đội 4 của tiểu đoàn 64 là đại đội mới thành lập cũng bao gồm toàn bộ những gương mặt tự vệ thành Hà Nội.
Đại đội 4 chiến đấu trong đội hình của tiểu đoàn, nhưng đặc trách một mình một hướng: Chặn địch từ mặt chính bắc (từ bệnh viện Bạch Mai chiếu thẳng lên ngã tư Kim Liên-Đại Cồ Việt). Riêng trận địa của trung đội 1 được đặt tại khu vực kề cận với sân bóng đá và một bãi tha ma, giữa hai cái lò gạch bỏ hoang cùng nhiều thùng đấu rất sâu. Nhiệm vụ của trung đội là phải chặn đứng mũi tấn công của quân Pháp từ Đại Cồ Việt-Kim Liên xuống Vọng.
Cho đến đêm 14-1-1947, toàn đội tự vệ Duy Tân xuất kích đánh thẳng vào khu nhà Thông tin Kim Liên và bốt gác Vân Hồ. Hai bên loạn đả đến 3 giờ sáng chúng tôi mới chịu rút về. Một lúc sau thì đại bác tầm xa của chúng câu về đúng khu vực trận địa của chúng tôi. Tiểu đoàn truyền lệnh: Tất cả ra vị trí chiến đấu. Trong lúc đó súng cối và đại bác của quân Pháp vẫn rót không ngừng vào khu vực trận địa của ta.
Trời sáng dần. Bên cánh trái của đại đội (trung đội 3 do đồng chí Ninh Hữu Cẩn chỉ huy) phát hiện thấy địch xuất hiện. Chúng có chừng hơn 30 tên, đều là lũ Việt gian bán nước đánh thuê cho Pháp, đang từ mé Khương Thượng, men theo bờ mương lớn, tiến sang. Chỉ còn cách cánh trái của đại đội chừng 30m, trung đội trưởng Ninh Hữu Cẩn lập tức ra lệnh cho trung đội nổ súng, chặn đứng mũi tiến công có tính chất thăm dò của đối phương. Trong khi ấy, từ hướng chính diện, quân Pháp từ Vân Hồ, Đại Cồ Việt tập trung về ngã tư Kim Liên. Chúng dùng súng cối, đại bác để mở đường như thường lệ rồi cho lính xua đồng bào ta lên trước, bắt dọn sạch các vật chướng ngại mà ta rải trên đường.
Trời đã sáng rõ. Quân Pháp chỉ còn cách ta chừng hơn 100m. Các nòng đại liên của ba đại đội bạn đặt trên nóc cổng và tầng hai bệnh viện Bạch Mai (ngay sau lưng chúng tôi) nhất tề bắn dọa. Đại liên của ta tức thì nhằm thẳng vào đội hình quân Pháp mà bắn. Địch chững lại gọi pháo binh tầm xa, nã tới tấp vào khu vực trận địa ta. Một đơn vị bạn bên cánh phải bị pháo địch khống chế, đành phải tránh tạt ngang sang phía khu Việt Nam học xá. Đội tự vệ Duy Tân lợi dụng được địa hình có nhiều góc khuất nên vẫn đứng vững. Hai tiểu đội do Quách Đình Hạnh, Phạm Văn Lục chỉ huy đã kịp thời phát hiện một toán địch bí mật lội ruộng men theo mé bên kia rìa đường quốc lộ, tiến về phía cổng bệnh viện. Anh em lập tức nổ súng chặn chúng lại.
Đến khoảng 12 giờ trưa, các cỡ súng bỗng rộ lên ngay sau lưng trung đội. Một lúc có tin: Quân Pháp đã chọc thủng phòng tuyến khu vực Ba Hàng-Vĩnh Tuy, vượt qua Mai Động-ngã tư Trung Hiền tiến sang Ngã Tư Vọng đang tấn công vào bệnh viện Bạch Mai. Vậy là thế trận bỗng nhiên thay đổi: đại đội 4 do đại đội trưởng Hồng Quân chỉ huy đang từ vị trí “tuyến tiền duyên” đã trở thành “tuyến sau” của tiểu đoàn. Cả một khu vực rộng lớn ở góc đông nam thành phố Hà Nội ngập chìm trong tiếng nổ và khói bụi.
Trận đánh nổ ra ngay từ phút đầu đã hết sức khẩn trương và quyết liệt. Đến lúc này, các đơn vị bạn đã bị quân địch tấn công trực diện, bằng cả xung lực và hỏa lực (xe tăng, thiết giáp, đại bác 20 ly và trung liên 13 ly 2 với ước chừng gần hai tiểu đoàn Âu Phi thiện chiến). Đại đội 4 của chúng tôi đành phải tự mình độc lực chặn mũi tiến công của địch từ hướng bắc tràn xuống.
Ở hướng Ngã Tư Vọng chúng đánh thọc vào bệnh viện Bạch Mai (nơi ba đại đội mạnh của tiểu đoàn đang chốt giữ) tình hình rất quyết liệt và căng thẳng.Trên hướng đại đội 4 chúng tôi chặn giữ, quân Pháp cũng tập trung cao độ binh hỏa lực mở đợt tấn công mới vào thẳng đội hình chiến đấu của đại đội. Ngay từ trận bom và đại bác đầu tiên, trên khu vực trận địa của trung đội 1 cả hai lò gạch đã bị sập, gần một chục chiến sĩ hy sinh. Dứt loạt bom và đại bác, xe tăng và thiết giáp của chúng hùng hổ tiến lên, áp sát khu vực trận địa của chúng tôi, xả súng dữ dội. Tất cả mọi cỡ súng của đại đội 4 nhất loạt chống trả rất quyết liệt. Cuộc chiến giằng co hơn ba tiếng đồng hồ. Số thương vong của cả hai bên mỗi lúc một tăng. Bọn Pháp hết sức cay cú, không tìm được cách nào để có thể vượt qua được tinh thần và ý chí đề kháng của gần 200 chiến sĩ tự vệ Liên khu II Hà Nội, mới được nhận quân tịch vừa chẵn hai tuần lễ…
Đúng thời điểm đó, đồng chí Hoàng Tường Tri, chính trị viên trung đội Duy Tân cùng tiểu đội trưởng Phạm Văn Lục trúng đạn hy sinh. Vừa lúc đó, tiểu đoàn trưởng Quốc Linh cùng với Đỗ Hồng (thư ký tác chiến) dìu chính trị viên tiểu đoàn Nguyễn Văn Dụ tới (anh Dụ bị thương vào ngực). Tiểu đoàn trưởng thông báo vắn tắt tình hình diễn biến của trận đánh cho Hoàng Giáp (trung đội trưởng trung đội 1, đang có mặt tại đấy): “Lực lượng hai bên ta và địch đều đã tổn thất nghiêm trọng. Ta phá được của địch 1 xe tăng, 1 xe bọc thép, tiêu diệt chừng non 200 tên. Song ta cũng bị thương vong chừng trên dưới 100, trong đó có ba chính trị viên là Mạnh Lân, Hoàng Tường Tri và Nguyễn Văn Dụ. Để bảo toàn lực lượng, tôi quyết định cho tiểu đoàn rút ra ngoài. Cử một trung đội trụ vững tại đây, bảo vệ đường rút của tiểu đoàn”.
Nói xong, tiểu đoàn trưởng cùng với bộ phận tiểu đoàn bộ đưa chính trị viên Dụ theo đường lòng con mương ở phía tây, rút ra. Đội trưởng Hoàng Giáp cùng với đội phó Phạm Văn Đặng lập tức bố trí lại đội hình, tập trung ưu tiên sức mạnh binh hỏa lực của đội về mé đường quốc lộ.
Quân Pháp phát hiện thấy bên ta rút, chúng rượt theo, đồng thời cánh quân phía bắc cũng lập tức rời chỗ ẩn nấp, nhấp nhổm tiến lên bắn như vãi đạn về phía chúng tôi. Đội trưởng Giáp và đội phó Đặng nhanh chóng chia quân chặn địch: Hai tiểu đội Đặng Thái và Hoàng Thái với một trung liên do Nguyễn Văn Hùng làm xạ thủ, cản bọn địch trong khu bệnh viện, bảo đảm cho tiểu đoàn rút ra ngoài-mặt này do đội phó Đặng chỉ huy. Bốn tiểu đội còn lại do đội trưởng Giáp chỉ huy chặn bọn địch từ mé quốc lộ 1 tiến vào. Toàn đội bước vào trận đánh có 96 anh em, lúc này chỉ còn lại chưa đến 50 người. Tất cả anh em đều bình tĩnh, kiên định chọi nhau với địch hết sức quyết liệt. Bên phía đội phó Đặng, khẩu trung liên trong tay xạ thủ Hùng cùng hơn 10 khẩu súng trường của hai tiểu đội Đặng Thái và Hoàng Thái phát huy cao độ uy lực, khiến cho không một tên địch nào dám liều mạng bám đuổi anh em. Nhưng vẫn còn một số đồng chí khi vượt qua bãi rộng chừng 20m để xuống lòng mương đã bị những loạt đạn của bọn Pháp từ trên gác cao bắn xuống, gây thương vong. Bên phía đội trưởng Giáp, bọn Pháp không có che chắn của xe tăng và thiết giáp, chúng tiến lên hết sức chật vật.
Hơn một giờ đồng hồ đã trôi qua. Bỗng xạ thủ Hùng kêu hết đạn. Đội phó Đặng trườn tới hội ý với đội trưởng Giáp. Nhìn đồng hồ tay kim chỉ đúng 17 giờ, và ráng trời đang tiết trong đông có vẻ như sắp tối. Hoàng Giáp hỏi kỹ lại đội phó Phạm Văn Đặng, yên tâm rằng các đơn vị bạn đã rút hết, anh truyền lệnh cho từng tiểu đội rút về Khương Thượng (điểm hẹn của tiểu đoàn). Sáu tiểu đội tuần tự thay nhau khống chế địch yểm hộ cho nhau rút ra (riêng tiểu đội 1 của Phạm Đường Bệ vì phải vượt qua một bãi trống nên có hai chiến sĩ thương vong).
Đến 17 giờ 30 cả sáu tiểu đội đã rút hết. Trận địa chỉ còn lại một tổ chiến đấu cuối cùng, gồm: Đội trưởng Hoàng Giáp, đội phó Phạm Văn Đặng, tiểu đội trưởng Hoàng Văn Thái, tiểu đội trưởng Quách Đình Hạnh, xạ thủ Nguyễn Văn Hùng và cô cứu thương Hoàng Thị Dung. Tổng cộng 6 người… tiếp tục đánh địch.
Đến đúng 18 giờ, bóng tối đã bao phủ đầy trời, giữa ta và địch chỉ còn nhìn thấy hình thù lờ mờ không còn phân biệt được màu sắc. Đội trưởng nhắc Hùng bảo vệ cứu thương Dung rút trước. Hùng giục Dung chạy để Hùng bám theo, Dung vọt lên khỏi công sự mới chạy được chừng 10 bước thì bất ngờ một tràng đại liên từ phía quân Pháp bắn sang trúng vào cô. Thấy Dung gục xuống, Hùng vội lao tới đỡ nhưng không kịp. Cũng chính băng đạn ấy của quân Pháp đã xuyên thủng bụng anh. Anh lảo đảo ôm bụng thét lên: “Các anh ơi! Cứu lấy Dung”…
Bọn địch chỉ cách ta chừng hơn hai chục mét. Hình như chúng nghe thấy tiếng thét của Hùng. Trong bóng tối nhập nhoạng, bọn địch lồm cồm tiến lên. Bốn tay súng còn lại của ta nhất tề nhả đạn. Quân Pháp rống lên như bò bị chọc tiết, chững lại và rồi một khẩu lệnh của chúng rất dõng dạc cất lên: “Cessez le jeu!”1.
Đội trưởng Giáp lập tức lao tới chỗ Dung và Hùng đang nằm. Dung còn sống và Hùng đã hy sinh. Đặng, Hạnh, Thái thay nhau vác Dung đi. Đội trưởng Giáp phục xuống ôm xác Hùng định vác lên nhưng không nổi. Anh lặng lẽ vuốt mắt Hùng rồi đứng dậy lầm lũi bước đi. Đến làng Khương Thượng, Giáp gặp Đặng với Thái đang ngồi nghỉ bên cạnh Dung. Họ đã xin đồng bào được một tấm cánh cửa đặt Dung lên để khiêng đi. Đặng cho biết tiểu đoàn đã rút về trú quân tại làng Huỳnh Cung. Mấy anh em dò dẫm hỏi thăm đường, mãi tới 12 giờ đêm mới về tới Huỳnh Cung. Đích thân tiểu đoàn trưởng Quốc Linh chạy ra đón. Anh nói một câu rất thật lòng: “Tôi xin thay mặt tiểu đoàn cảm ơn các anh học trò Hà Nội! Các đồng chí đánh rất cừ”.
(Theo “Hà Nội-Bản hùng ca bất tử mùa Đông 1946”-sách do Ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội tổ chức biên tập và xuất bản)
VĂN QUANG-Nguyên tự vệ tiểu khu 7, khu chợ Hôm, Liên khu II
(1) “Chấm dứt cuộc chơi” - Ý bọn Pháp ví cuộc chiến đấu như một trò chơi săn người.
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận