Thứ Sáu, 06/11/2009, 17:51

    Dòng sông Măng và người Cục trưởng Quân giới

    QĐND Online - Từ một trí thức theo Bác Hồ về nước, Trần Đại Nghĩa không ngừng sáng tạo, say mê, tận tụy với nghề chế tạo quân khí. Ông đã có những cống hiến xứng đáng cho Tổ quốc. Sau này, ông còn được được Đảng, Nhà nước giao các chức vụ quan trọng...

    QĐND Online -  Cách đây 12 năm, vào một ngày cuối thu, lúc đó Giáo sư Trần Đại Nghĩa còn chưa ngã bệnh, tôi được đến thăm Giáo sư tại nhà riêng ở quận Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh. Khi nhắc đến vùng đất “Chín rồng- Cửu Long”, ông hỏi tôi “ dòng sông Măng giờ còn trong mát như xưa không không cháu?”. Lúc đó, tôi đã tự hỏi tại sao Giáo sư lại quan tâm đến dòng sông Măng đến thế?...

    Mồ côi cha, ra đi từ  vùng quê nghèo

    Trần Đại Nghĩa sinh ngày 13-9-1913 tại xã Hòa Hiệp, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Tên thật của ông là Phạm Quang Lễ. Cha ông-Phạm Quang Mùi, là một nhà nho nghèo, được nhiều người kính trọng bởi luôn cưu mang, giúp đỡ học sinh nghèo. Nhưng không may cha ông mất sớm khi cả hai chị em ông đều còn nhỏ dại.

    Giáo sư (GS) Viện sĩ (VS) Trần Đại Nghĩa kể rằng, khi cha ông mất, chị ruột ông phải nghỉ học để nhường cho ông được học tiểu học. Mỗi khi đi học, ông ngồi vỏ lãi, để người chị chỉ hơn mình một tuổi chèo đưa qua sông Măng. Dòng sông Măng đã mãi mãi in đậm trong của ông cũng vì lẽ đó.

    No image available
    Kỹ sư Trần Đại Nghĩa (thứ hai từ phải qua) báo cáo trước Đại tướng Võ Nguyên Giáp (ngoài cùng bên phải)  loại vũ khí chống tăng do ông chế tạo.

    Học xong tiểu học, ông bước chân vào trường Fêtrút Ký (nay trường THPT chuyên Lê Hồng Phong). Khi đó ông thuộc loại học sinh nghèo nhất của trường. Song vì tính chăm chỉ, chuyên cần và tố chất thông minh nên được thầy cô, bạn bè yêu mến.

    Năm 1933, Trần Đại Nghĩa học xong bậc trung học, ông lại nuôi ước mơ được học lên cao nữa để có điều kiện tiếp thu các thành tựu khoa học kỹ thuật trên thế giới. Ngay trong năm đó, ông đã thi đỗ hai bằng tú tài (tú tài tây và tú tài bản xứ). Nhưng vì nhà nghèo, Trần Đại Nghĩa không thể ra Hà Nội học đại học nên đành trở về TP Mỹ Tho làm một chân thư ký quèn để kiếm tiền giúp mẹ và chị gái. Thời gian này ông tự học thêm về luật. Hai năm sau, ông Dương Văn Ngưu, một nhà báo yêu nước, mến mộ tài chí của Trần Đại Nghĩa nên đã giúp ông thi đậu suất học bổng của Trường Chasseloakp Laubat - Pháp.

    Trong thời gian này, tại Sài Gòn và Nam Bộ, nhiều phong trào yêu nước (phong trào đòi ân xá cụ Phan Bội Châu, đám tang cụ Phan Chu Trinh, phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh...) đã tác động mạnh đến tình cảm yêu nước của ông, khơi dậy trong ông sự quan tâm nghiên cứu những vấn đề lịch sử dân tộc. Sau này ông cho biết, khi sang Pháp, ông quan tâm đặc biệt tới giai đoạn chống thực dân Pháp và tự tìm hiểu nguyên nhân tại sao người dân đất nước mình tuy rất trung kiên, nhưng cuộc khởi nghĩa nào cũng đi vào thất bại. Rồi ông rút ra một trong những nguyên nhân quan trọng, đố là thất bại của các phong trào yêu nước từ đầu thế kỷ XIX đến bấy giờ một phần là do ta không có điều kiện tiếp thu các cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ nhất (triều đình Nhà Nguyễn), thiếu vũ khí cần thiết để tự vệ (phong trào yêu nước của các sĩ phu). Thế là ông nung nấu quyết tâm: “chuyên sâu nghiên cứu kỹ thuật chế tạo vũ khí để phục vụ công cuộc giải phóng đất nước”.

    Tại Pháp, ngoài học ở Đại học cầu-đường, ông còn học thêm nhiều trường đại học khác như Bách Khoa, Hoá học… vì thế sau 11 năm ở Pháp, Trần Đại Nghĩa không chỉ là một kỹ sư cầu đường mà còn là một chuyên gia am hiểu sâu về chất nổ, các phản ứng hoá học…rồi ông được tuyển vào làm kỹ sư chính trong một hãng chế tạo máy bay ở Pháp, với mức lương tương đương 22 lượng vàng/ tháng lúc đó…

    Trở về phụng sự Tổ quốc

    Ngày 5-7-1946, cùng với hàng vạn Việt kiều tại Pháp, kỹ sư Trần Đại Nghĩa ra sân bay Le Beurget để đón Bác Hồ và đoàn cấp cao chính phủ ta mới thành lập sau Cách mạng Tháng 8. Do là người hiểu và quen biết nhiều trí thức Việt Nam tại Pháp nên trong những chuyến đi thăm, làm việc của Bác Hồ với bà con kiều bào, kỹ sư Trần Đại Nghĩa đều được tháp tùng.

    Suốt 2 tháng đi cùng Bác, kỹ sư Trần Đại Nghĩa đã báo cáo với Bác tất cả những điều mình biết về thế giới chiến tranh lần thứ 2 cũng như quá trình làm việc, học tập, nghiên cứu của mình. Ngày 8-9-1946, Bác Hồ cho gọi Trần Đại Nghĩa đến, Bác cho ông biết là Hội nghị Phôngtenơblô không thành công. Sau đó Bác nói với ông: “Bác về nước, chú chuẩn bị về với Bác. Hai ngày nữa ta lên đường”

    Giữa tháng 9-1946, kỹ sư Trần Đại Nghĩa cùng đoàn của Bác rời cảng Tulông-Pháp. Sau 40 ngày lênh đênh trên biển cùng chiến hạm Đuy mông Đuyêc-vin của Pháp, ngày 20-10-1946, Bác Hồ cùng bác sĩ Trần Hữu Tước, kỹ sư Võ Quí Huân, kỹ sư Vũ Đình Huỳnh và kỹ sư Trần Đại Nghĩa về đến cảng Hải Phòng.

    Với GS Trần Đại Nghĩa thì lớp chính trị Bác Hồ dạy trong 40 ngày lênh đênh trên biển ấy là lớp chính trị đầu tiên, có tác dụng rất lớn đối với cuộc đời ông. Ông nhớ hai câu Bác Hồ đã hỏi ông. Câu thứ nhất “Bây giờ ở nhà cực khổ lắm, chú về có chịu nổi không?”. ông trả lời: “Thưa Bác, tôi chịu nổi”. Câu thứ hai Bác hỏi là: “Bây giờ ở nhà kỹ sư, công nhân về vũ khí không có. Máy móc thiếu, liệu chú có làm được việc không?”. Tôi khẳng định: “Thưa Bác, tôi đã chuẩn bị 11 năm rồi và tôi tin là làm được”.

    Sau khi về nước được một tuần, ông được điều lên Thái Nguyên chế tạo súng, đạn chống xe tăng theo mẫu Badôca lấy từ mẫu đạn trong kho vũ khí của quân đội Nhật để lại. Công việc đang tiến triển thì thực dân Pháp bắn phá Hải Phòng, Bộ Quốc phòng cho gọi ông về Hà Nội. Ngày 5-12-1946 (đúng hai tuần trước khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ) tại Bắc bộ phủ, Bác Hồ đã trực tiếp giao cho kỹ sư Phạm Quang Lễ làm Cục trưởng Cục quân giới và chính Người đặt tên mới cho ông là Trần Đại Nghĩa. Theo Bác, đặt tên như vậy là để giữ bí mật cho ông và gia đình cùng bà con thân thích của ông còn đang ở miền .

    Ngay từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến, kỹ sư Trần Đại Nghĩa đã tự nghiên cứu, chế tạo các loại lựu đạn, súng phóng lựu, súng cối 50,8 li, mìn phá xe... kịp thời phục vụ quân đội ta cản phá các cuộc tiến công của thực dân Pháp diễn ra 9 tuần lễ ngay tại Thủ đô.

    Khi kháng chiến mở rộng ra toàn quốc, ông theo Bác Hồ và Trung ương Đảng lên chiến khu. Tại đây ông đã có một phát kiến hết sức quan trọng. Ông nhận thấy tại khu rừng căn cứ Việt Bắc có nhiều phân dơi, từ đó ông đã cho sử dụng diêm tiêu trong phân dơi làm thuốc súng. Ngoài ra, ông còn cho lấy đường ray xe lửa loại cũ làm nòng súng cối 50,8 li; lấy bình ôxy làm nòng súng cối 205 li…Đặc biệt, sau nhiều lần thử nghiệm, Trần Đại Nghĩa đã chế tạo thành công súng badôca trên cơ sở thiết kế lại toàn bộ quả đạn badôca của Mỹ cho phù hợp điều kiện tác chiến trên chiến trường Việt Nam. Súng Badôca do Trần Đại Nghĩa chế tạo không chỉ có tác dụng chống xe tăng, bọc thép, mà còn có thể đánh tàu chiến chạy gần bờ; dập tắt hỏa lực, hay bắn tan đội hình địch tập trung quân đông.

    Ngày 5-3-1947, trong trận phục kích trên đường số 6 tại xóm Trầm (cách Hà Nội khoảng 30 km), bị những quả đạn badôca của ta bất ngờ bắn vào đội hình xe tăng, quân Pháp buộc phải quay đầu chạy về Hà Nội.

    Loại súng badôca đó cũng đã đóng vai trò quan trọng trong chiến dịch Thu Đông 1947-1948, làm cho thực dân Pháp khiếp sợ. Năm 1947, ngay giữa chiến dịch, Trần Đại Nghĩa được Bác Hồ và Trung ương Đảng chỉ định làm Cục trưởng Cục pháo binh kiêm Cục trưởng Cục quân giới. Sau chiến dịch này Trần Đại Nghĩa được phong quân hàm thiếu tướng.

    Từ một trí thức theo Bác Hồ về nước, Trần Đại Nghĩa đã không ngừng sáng tạo, say mê, tận tụy với nghề chế tạo quân khí. Ông đã có những cống hiến xứng đáng cho Tổ quốc. Sau này, ông còn được được Đảng, Nhà nước giao các chức vụ quan trọng như: Thứ trưởng Bộ Công nghiệp; Chủ nhiệm Ủy Ban xây dựng cơ bản Nhà nước và Ủy Ban khoa học kỹ thuật Nhà nước; Viện trưởng Viện Khoa học Việt Nam, đồng thời là Chủ tịch các Hội liên hiệp khoa học kỹ thuật Việt Nam. Trên cương vị công tác nào ông cũng luôn hoàn thành nhiệm vụ.

    Sau này khi được nghỉ hưu, ông và gia đình vào sống tại quận Tân Bình, TP Hồ Chí Minh. Tuy đã về với hậu phương song ông vẫn rất chú ý đến công tác đào tạo, bồi dưỡng những nhân tài của Viện Khoa học Việt ...

    Phạm Bá Nhiễu

    hoangha

    Ý kiến bạn đọc

    0 bình luận
    Đang tải reCAPTCHA...