Thứ Sáu, 29/12/2006, 12:53

    Lịch sử quân sự đó…đây

    Trước ngày Tổng khởi nghĩa Tháng 8-1945, Toà soạn báo Thanh Niên Mới đặt ở số 38 đường J.C. Bose bên Gia Định...

    May "nhầm" màu cờ

    Trước ngày Tổng khởi nghĩa Tháng 8-1945, Toà soạn báo Thanh Niên Mới đặt ở số 38 đường J.C. Bose bên Gia Định. Theo chỉ thị Xứ uỷ Nam Kỳ, Toà soạn treo lá cờ đỏ sao vàng-đây là một trong những lá cờ Tổ quốc xuất hiện đầu tiên trong khu vực Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định. Trước sự hân hoan và náo nhiệt của đồng bào ta, mấy tên hiến binh Nhật đóng gần đó mò sang cùng một viên thông ngôn đứng nhìn lá cờ rồi xì xồ chỉ trỏ. Để ngăn không cho bọn chúng vào toà soạn, các anh Hoàng Phố, Hoàng Tấn và Trúc Khanh chạy ra án ngữ, theo sau là Hồ Dzếnh, Việt Khang và Nguyễn Long. Viên thông ngôn hỏi: “Cờ gì đây?”. Hoàng Phố đáp: “Cờ Thanh niên Tiền phong chứ còn cờ gì nữa?”. Cờ Thanh niên Tiền phong nền vàng sao đỏ thì mấy tháng nay bọn chúng đã quen. Lính Nhật lại chỉ trỏ bàn tán, viên thông ngôn bắt ta giải thích rõ hơn. Trúc Khanh bình tĩnh nói: “Trong lúc quá vội vàng nên thợ may đã nhầm màu”. Sau khi nghe viên thông ngôn nói lại, bọn hiến binh có vẻ hiểu ra nên kéo nhau đi. Trước khi đi, viên thông ngôn giở mũ chào và cười nịnh: “Vàng đỏ, đỏ vàng thì cũng vậy!”.

    Khánh Linh (st)

    Quán hủ tiếu ông Tám Trấu

    Vào khoảng năm 1946-1947, dọc kênh Lý Văn Mạnh đều là nhà dân, sâu vào phía trong là các cơ quan của Uỷ ban hành chính kháng chiến Sài Gòn-Chợ Lớn. Cán bộ những cơ quan này, buổi sáng thường “lót dạ” hủ tiếu tại quán ông Tám Trấu. Một lần, quân Pháp mở cuộc càn lớn vào vùng kênh Lý Văn Mạnh. Vì có tin báo là quán ông Tám Trấu chuyên nuôi Việt Minh bằng hủ tiếu nên khi càn tới nơi, tên sĩ quan Pháp bắt ông Tám Trấu hăm doạ: “Mày nuôi Việt Minh?”. Ông Tám Trấu giả bộ lãng tai, trả lời: “Vâng, tôi ở một mình”. Hắn sai lính đánh ông. Ông vẫn trả lời rằng chỉ có một mình. Bực mình, hắn quát: “Tao giết mày, lột da mày, nhồi cám”. Ông Tám trấu trả lời: “Dạ, Trấu”. Thằng sĩ quan Pháp càng tức hơn: “Mày bằng lòng lột da nhồi trấu?”. Ông Tám vẫn làm bộ không nghe, mãi sau ông gật: “Dạ Trấu, Tám Trấu”. Trong lúc đó, các đơn vị của Chi đội 6 và dân quân Trung Quận áp sát chỉ huy sở của chúng đặt tại quán hủ tiếu ông Tám. Nghe tiếng súng, tên sĩ quan hốt hoảng bỏ chạy cùng với đám tàn quân. Sau trận càn đó, anh chị em cán bộ ở Khu 7 xuống, ở Đồng Tháp, U Minh lên, qua Vườn Thơm, Lý Văn Mạnh, ai cũng muốn ghé vào để thưởng thức hủ tiếu ông Tám Trấu và được gặp người chủ quán mưu trí, gan dạ.

    Minh Dũng (st)

    Giải thích... hết ý

    Sau Cách mạng Tháng Tám, nghe nói nhiều về quân sự-vũ khí, người dân ở xã Mỹ Chánh (Phù Mỹ, Bình Định) không hiểu liền kéo lên hỏi chính quyền xã. Một hôm, ông Bốn én-hồi đó giữ chức vụ tương đương Xã đội trưởng bây giờ, tập trung đồng bào để giải thích những từ “mới” đó: “Tôi xin cắt nghĩa cho đồng bào rõ: quân là lính, sự là sinh sự. Quân sự là lính sinh sự, mà lính sinh sự thì đánh nhau. Đánh nhau phải có súng, dao, gậy tầm vông… nghĩa là có vũ khí. Súng thì có hai loại: súng to và súng nhỏ, súng to thì to hơn súng nhỏ, súng nhỏ thì nhỏ hơn súng to. Đồng bào còn thắc mắc thì đi tìm Vệ Quốc đoàn mà hỏi. Tôi xin hết!”. Giải thích xong, ông đứng thẳng, nói “Hết” trong tư thế nghiêm rồi quay người đi xuống đúng kiểu nhà binh. Chuyện cắt nghĩa hồi đó gọn gàng như vậy nhưng cũng đủ thoả mãn dân trí. Chứ bây giờ có lẽ không ai dám giải thích như vậy.

    Thu Trang (st)

    Thoát chết nhờ kinh phật

    Khánh chiến toàn quốc bùng nổ, một số đơn vị lính Sao vuông (dân quân-tự vệ) ở lại để bảo vệ Thủ đô, còn một số thì tản cư hoặc gia nhập các đoàn thể khác. Một lần, anh em nhận lệnh vào treo cờ trong khu nhà ở của Sainteny trên phố Hàng Trống, gần trụ sở hội Khai Trí Tiến Đức. Lúc đó, Sainteny đã vào ở trong Thành, nhưng khu nhà ở vẫn có lính gác. Cấp trên chỉ thị treo cờ xong là rút luôn, hạn chế nổ súng. Trời Hà Nội rét thấu xương nên ai cũng lùm xùm áo khoác. Vào tới khuôn viên, bốn bề vẫn yên tĩnh. Đồng chí Nhượng xung phong trèo lên cột cờ để treo quốc kỳ. Khi anh vừa tụt xuống nửa chừng thì có tiếng súng của địch. Cùng lúc ấy, mọi người nghe tiếng Nhượng kêu: “Ôi thôi! chúng nó bắn chết tôi rồi”. Mọi người vừa tập trung hoả lực để diệt những ổ kháng cự của địch, vừa cấp cứu đồng đội. Sau khi đưa người bị thương ra phía ngoài dinh, cách xa tầm súng địch, mọi người cởi áo xem vết thương thấy ngực áo anh Nhượng ướt đẫm, ngỡ là máu. Ai cũng ngạc nhiên vì máu gì mà có mùi thơm lừng. Cởi áo Bađờxuy của anh ra, mọi người mới vỡ lẽ mùi thơm toả ra từ một chai nước hoa đã bị đạn bắn vỡ. Viên đạn còn xuyên qua hai lần áo dạ rồi nằm lại ở giữa một cuốn kinh Phật dày, khổ nhỏ mà anh để nơi túi ngực. Nhờ vậy anh mới thoát chết.

    Thế thanh (st)

    Thắng nhờ đèn pha

    Đầu năm 1945, đội quân do Giu-cốp dẫn đầu mở cuộc tiến công vào sào huyệt cuối cùng của Hít-le. Lúc này, Béc-lin là một khu vực phòng thủ kiên cố của quân Đức. Việc tiến công vào đây nếu không được trù tính kỹ thì chắc chắn sẽ gặp những tổn thất rất lớn. Để phá vỡ nhanh chóng tuyến tiền duyên của quân Đức, ngoài việc chuẩn bị đạn pháo, xe tăng, Giu-cốp đã cho lắp đặt hơn 300 bộ đèn pha cực mạnh trên các trận địa xuất phát tiến công. Đúng giờ nổ súng, các đèn pha bất ngờ bật sáng. Cùng lúc, hàng vạn trái đạn pháo cỡ lớn đồng loạt giội vào trận địa quân Đức. Binh lính Đức tại tuyến tiền duyên vô cùng hoảng loạn vì tưởng rằng Hồng quân Liên Xô phát minh ra loại vũ khí mới. Trận địa phòng ngự của quân Đức gần như bị tê liệt hoàn toàn. Nhờ vậy, tốc độ tiến công của Hồng quân vào Béc-lin trở nên nhanh hơn bao giờ hết. Chỉ trong một thời gian ngắn, Hồng quân đã giải quyết hoàn toàn tuyến phòng ngự kiên cố vào loại bậc nhất trong lịch sử chiến tranh thế giới lúc đó.

    Thanh Nhàn (st)

    Cấp cứu bằng bánh đúc

    Đầu năm 1950, một đơn vị bộ đội đóng quân ở làng Thanh áng (Hà Đông). Vào dịp tháng ba ngày tám, nhân dân đói kém nên bộ đội cũng thiếu thốn. Mỗi bữa chiến sĩ chỉ được hai bát cháo đặc. Hầu hết đang ở tuổi ăn không biết no mà khẩu phần chỉ có vậy nên anh nào cũng đói. Tuy vậy, hằng ngày, đơn vị vẫn giữ vững giờ giấc học tập, huấn luyện. Một lần, đơn vị diễn tập ở khu chợ Thanh áng đánh quân nhảy dù và đánh bộ binh địch tiến công. Mọi người đang hò hét xung phong đuổi địch đến chợ thì một chiến sĩ bị ngất. Một cụ già ở gần đó thấy thế liền ra dìu anh vào quán nước. Anh em đoán là bị cảm đột ngột, định gọi y tá đến cấp cứu. Sau khi hỏi han bệnh tình, rờ trán, sờ bụng chiến sĩ bị ngất, ông cụ ngăn: “Anh ấy bị mệt lả chứ không phải cảm. Các anh cứ để tôi cấp cứu cho”. Ông đi ra ngoài, lát sau quay lại, tay cầm một bọc bánh đúc. “Người bệnh” sau khi ăn hết miếng bánh đúc to, uống nước ấm thì khoẻ hẳn. Đứng xung quanh chứng kiến ca “cấp cứu” thành công, mọi người mới vỡ lẽ và đùa vui: “Ngất mà vẫn ăn hết cả miếng bánh đúc to như cái bánh chưng thì thừa sức đánh Tây”.

    Minh Đức (st)

    Bộc phá gói lá dong

    Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, một công việc khá vất vả mà bộ đội ta phải làm là phá đá mở đường. Nhiều khi đường đi qua cả một quả núi lớn. Nếu chỉ dùng sức mạnh cơ bắp, thủ công thì rất khó hoàn thành công việc. Song “cái khó ló cái khôn”, nhiều sáng kiến của các chiến sĩ đã mang lại hiệu quả to lớn ngoài sức tưởng tượng. Một trong những sáng kiến đó là gói bộc phá bằng lá dong gói bánh. Số là đơn vị đang gấp rút phá một quả núi để làm đường cho chiến dịch. Ni-lông dùng để gói bộc phá đã hết, trời thì mưa dai dẳng, không có thứ gì có thể dùng gói bộc phá mà thuốc không bị ướt. Gần đến Tết Nguyên đán, trong lúc gói bánh chưng, chiến sĩ Vinh chợt nghĩ ra một mẹo nhỏ: thử gói bộc phá theo kiểu gói bánh chưng xem sao. Kết quả thật bất ngờ. Những quả bộc phá được gói bằng lá dong đều đạt yêu cầu, để ra ngoài trời mưa thuốc bên trong vẫn không bị ướt. Vậy là đã thành công. Nhưng đến khi dùi lỗ bộc phá để đút dây cháy chậm vào thì lại không có thứ gì để gắn chỗ thủng. Trong lúc mọi người đang vò đầu bứt tai suy nghĩ thì anh nuôi bê một xoong cơm nếp, được nấu bằng gạo gói bánh còn thừa, ra phân trần: “Cơm nếp ướt quá, chẳng ai muốn ăn”. Có người đề xuất, lấy cơm nếp nghiền ra, gắn vào chỗ đút dây cháy chậm. Kết quả thật mĩ mãn. Ngay hôm đó, sáng kiến gói bộc phá bằng lá dong và gắn lỗ thủng bằng cơm nếp nát được phổ biến ra toàn đơn vị. Công việc phá đá làm đường lại được tiến hành thuận lợi, góp phần không nhỏ vào chiến thắng của cả chiến dịch.

    Nam Khánh (st)

    host

    Ý kiến bạn đọc

    0 bình luận
    Đang tải reCAPTCHA...