Đường Hồ Chí Minh – đường Trường Sơn – qua con mắt của nhiều nhà báo phương Tây chưa từng đặt chân đến Trường Sơn, vẫn hiện ra một cách khách quan như là “câu chuyện thần thoại Đông Dương”, là “con rồng nghìn vẩy, chặt xong lại mọc”, là “con đường thần thông biến hóa như được đức Phật chí tôn phù hộ”…
Đường Hồ Chí Minh – đường Trường Sơn – qua con mắt của nhiều nhà báo phương Tây chưa từng đặt chân đến Trường Sơn, vẫn hiện ra một cách khách quan như là “câu chuyện thần thoại Đông Dương”, là “con rồng nghìn vẩy, chặt xong lại mọc”, là “con đường thần thông biến hóa như được đức Phật chí tôn phù hộ”…
Làm nên con đường kỳ diệu như vậy và nuôi dưỡng nó, sử dụng hết “công suất” của nó, chiến đấu bảo vệ nó, tất nhiên phải do một sức mạnh tổng hợp, trong đó có một đội quân khá đặc biệt – những chiến sĩ làm công tác văn học nghệ thuật nói chung, các nhà văn nói riêng.
Cùng bộ đội, thanh niên xung phong… đến với đường Hồ Chí Minh, có đủ thế hệ các nhà văn – mặc áo lính và không mặc áo lính – từ những người sáng tác trước Cách mạng Tháng Tám, trong kháng chiến chống thực dân Pháp, trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đến những người viết trẻ trưởng thành ngay trong khói lửa của những năm kháng chiến chống Mỹ. Họ gồm đủ các lứa tuổi, đánh giặc bằng cây bút là chủ yếu, hoặc cũng có thể là những người lính chiến đấu thực thụ, được thực tiễn kháng chiến đào tạo, trở thành những nhà văn ngay từ trong công cuộc chiến đấu và phục vụ chiến đấu của họ, trên chính con đường ấy.
Nhà văn – chiến sĩ trước Cách mạng Tháng Tám và kháng chiến chống thực dân Pháp
Đến với đường Trường Sơn – trước hết phải nói về thế hệ nhà văn trưởng thành trước Cách mạng tháng Tám và trong kháng chiến chống Pháp. Lớp nhà văn này, trước khi đến với Trường Sơn đã có nhiều tác phẩm đáng chú ý, thậm chí rất nổi tiếng. Ở đây chỉ nêu một số người tiêu biểu – đã từng mặc “áo lính” hoặc từng theo “anh Vệ quốc quân” trên các nẻo đường kháng chiến chống Pháp.
Là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt , năm 1973, trong một chuyến đi thực tế trên đường Hồ Chí Minh, nhà thơ Tố Hữu có bài thơ Nước non ngàn dặm. Chính ở Trường Sơn đã nảy sinh những câu thơ vào loại hay trong thơ kháng chiến chống Mỹ:
Trường Sơn mây núi lô xô/Quân đi, sóng lượn nhấp nhô bụi hồng
Hay hồn nhiên và lạc quan như cảnh:
Mấy chàng lính trẻ măng tơ/Nghêu ngao gõ bát hát chờ cơm sôi.
Nhà thơ Huy Cận, trong nhiều bài thơ, nhìn đường Hồ Chí Minh từ những góc độ khác nhau và có lần đặc tả cây cối Trường Sơn trong cảnh bom đạn tàn phá – ở đây cây không chỉ là cây, cây còn là một hình ảnh tượng trưng cho con người, cho kháng chiến: Xương của rừng già, cây cháy rang/Ngang thân bom chém vẫn nguyên hàng/Vỏ xanh bong hết, còn trơ lõi/Cành trụi càng cao giữa nắng chang.
Nhà văn Nguyễn Đình Thi, tác giả của những bài hát nổi tiếng trước Cách mạng tháng Tám đã có những trang đầy ấn tượng trên đường Hồ Chí Minh, mà bài thơ Lá đỏ được phổ nhạc là tiêu biểu. Tác giả gặp các cô gái chiến sĩ giữa một khung cảnh bao la, với một hình ảnh thật bình dị:
Em đứng bên đường/ như quê hương/Vai áo bạc quàng súng trường. Trong khi: Đoàn quân vẫn đi vội vã/Bụi Trường Sơn nhòa trời lửa.
Nhà văn Nguyễn Minh Châu (1930-1988) sau nhiều lần khoác ba lô đến các nẻo đường Trường Sơn, đã đem lại cho người đọc truyện ngắn Mảnh trăng cuối rừng và tiểu thuyết Dấu chân người lính được coi như những tác phẩm xuất sắc nhất của anh trong những năm chống Mỹ.
Nhà văn Nguyễn Trọng Oánh đi trên đường Hồ Chí Minh đã có: Chiều nay/Từ đỉnh Trường Sơn nổi gió/Cuộn cuộn bước ta đi/Lại âm vang tiếng hát bốn phương về/”Ôi, xương tan máu rơi…”.
Những nhà văn-chiến sĩ thuộc thế hệ chống Mỹ
Cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc ta đã sản sinh ra nhiều nhà văn-chiến sĩ, trong đó có một đội ngũ khá đông nhà văn trẻ quân đội được trưởng thành từ chính cuộc chiến đấu trên đường Trường Sơn. Họ đến với đường Trường Sơn trước hết là với tư cách người lính cầm súng chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu. Họ đã đem vào Trường Sơn một tiếng nói trẻ trung, khác lạ. Những ngày ban đầu là tiếng nói hồn nhiên, lãng mạn của tuổi học sinh trong giọng điệu, trong suy nghĩ. Nhà thơ Anh Ngọc thấy:
Giữa một vùng lửa cháy bom rơi/Cây hiện lên như một niềm ấp ủ/
Anh lính trẻ hái một cành xấu hổ/ Ướp vào trong trang sổ của mình…
Nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm khi “vào mặt trận”, cái chú ý đầu tiên của anh chưa phải là bom đạn mà là những chú “ve đang kêu”.
Mũ tai bèo khẽ nghiêng nghiêng/ Nghe lăn lăn những tiếng chim xuống hầm…
Nguyễn Đức Mậu trưởng thành cả về hai phương diện người lính và nhà thơ chính là từ những ngày đi Trường Sơn. Trong Trường ca sư đoàn, anh có những câu ghi được những nét “đặc tả” trên đường hành quân thần tốc của những người lính từ Trường Sơn tiến về Sài Gòn:
Đội hình chủ lực hành quân gấp/Đi dọc Trường Sơn xanh chất ngất
…Giờ nghỉ bên đường, bếp nhóm vội /Nấu chưa kịp chín, lệnh hành quân
Bê nồi cơm sống lên xe tải/Không cần đũa bát, chẳng cần mâm
Đường dài xe chạy người ăn bốc/Một miếng cơm nhai có bụi lầm!
Cây bút nữ Nguyễn Thị Như Trang bấy giờ có con còn nhỏ tuổi vẫn đi Trường Sơn và sau chuyến đi, tiểu thuyết đầu tay của chị Khoảng sáng trong rừng dài hơn 400 trang ra đời.
Trong lớp nhà văn trưởng thành từ chính khói lửa của những năm tháng kháng chiến chống Mỹ, người được Đường Hồ Chí Minh rèn luyện đến trưởng thành và nói được tiếng nói nghệ thuật đặc sắc nhất về đường Hồ Chí Minh, về Trường Sơn, về cuộc kháng chiến với một phong cách mới và rất nổi tiếng là Phạm Tiến Duật. Một loạt bài thơ của Phạm Tiến Duật làm trong thời kỳ này tạo được ấn tượng mạnh. Chẳng hạn, các bài Lửa đèn, Tiếng bom ở Seng Phan… là biểu hiện sinh động sự bình tĩnh, tự tin của con người giữa nơi bom đạn ác liệt cùng nhiều bài thơ nổi tiếng khác: Gửi em-cô thanh niên xung phong, Bài thơ về tiểu đội xe không kính…
Còn có thể kể được ra nhiều nhà văn, nhà thơ khác gắn bó với đường Hồ Chí Minh ít hay nhiều. Chẳng hạn, nhà văn Phạm Hoa, Chính Hữu, Hữu Mai, Nguyên Ngọc, Xuân Thiều, Hải Hồ, Phạm Ngọc Cảnh, Xuân Sách, Thu Bồn, Ngô Văn Phú, Hữu Thỉnh, Bằng Việt, Xuân Quỳnh, Trần Ninh Hồ, Bùi Bình Thi, Khuất Quang Thụy, Trần Mạnh Hảo, Duy Khán, Trần Nhượng, Liên Nam, Cao Tiến Lê, Thao Trường, các liệt sĩ Nguyễn Mỹ, Nguyễn Trọng Định...
Có thể thấy, mức độ thành công và đóng góp của từng tác giả khác nhau, song toàn bộ tác phẩm văn học viết về đường Trường Sơn của các nhà văn – chiến sĩ đã thực sự có ảnh hưởng đến cuộc chiến đấu của dân tộc. Chúng có sức truyền cảm mạnh, đi được vào lòng người là nhờ có được sự chân thực và sinh động.
Có thể nói mà không sợ quá lời rằng, trong những năm chống Mỹ nhiều trang sách, bài thơ viết về đường Trường Sơn đã thực sự “thổi” vào nhiều lớp thanh niên một khí thế hừng hực sẵn sàng ra trận, kêu gọi và thúc giục họ đến với những nơi nóng bỏng của cuộc chiến đấu của dân tộc. Cái không khí ra trận như đi “trẩy hội”, “mà lòng phơi phới dậy tương lai” là thực tế và một phần nhờ sức truyền cảm của các trang thơ, trang văn ra đời từ Trường Sơn khói lửa.
HỒNG DIỆU
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận