Chủ Nhật, 30/03/2008, 22:47

    Những đứa con của đất rừng Huổi Tụ

    Đã lâu lắm rồi đất rừng hai xã Huổi Tụ, Mường Lống huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An mới có nắng ấm. Ngọn núi Pu Phát bị mây mù che khuất, năm thì mười họa mới đón được nắng. Trước kia, bà con dân bản quanh năm sống bờ bụi “nằm nghiêng mong suối, nằm ngửa mong rừng”, ngày hai bữa lót dạ chỉ trông vào con cá dưới suối...

    Khi nhắc đến các đội công tác xây dựng cơ sở của Bộ CHQS tỉnh đang công tác trên địa bàn, ông Vi Hải Thành, Bí thư huyện ủy huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An đã không ngớt lời khen: “Đó là những đứa con của đất rừng mình đấy! Bộ đội đã chăm lo cho dân bản, xây dựng nhiều xã, bản từ yếu kém trở thành xã, bản mạnh. Đảng bộ và bà con các dân tộc Kỳ Sơn biết ơn Bộ đội Cụ Hồ nhiều lắm”. Cán bộ, chiến sĩ đội công tác xây dựng cơ sở 1 (Bộ CHQS tỉnh Nghệ An) là tập thể xứng đáng với lời khen như thế!

    Đã lâu lắm rồi đất rừng hai xã Huổi Tụ, Mường Lống huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An mới có nắng ấm. Ngọn núi Pu Phát bị mây mù che khuất, năm thì mười họa mới đón được nắng. Làng bản người Mông lẩn khuất trong mây, trong gió. Trước kia, bà con dân bản quanh năm sống bờ bụi “nằm nghiêng mong suối, nằm ngửa mong rừng”, ngày hai bữa lót dạ chỉ trông vào con cá dưới suối; săn bắt con thú, bẻ ngọn măng, đào củ nâu, củ mài trong rừng; đốt rừng làm rẫy gieo lúa, tra bắp. Thế mà dân bản sinh con đẻ cái vô chừng lắm, có nóc chí ít cũng 7-8 đứa, sống chết chẳng quan tâm. Đã có người nhẹ dạ cả tin nghe bọn xấu lên núi cao, vào rừng sâu heo hút tìm mảnh đất “Vương quốc Mông”. Có người bỏ xác, có người quay về với làng bản bằng tấm thân tàn ma dại đê mê trong cơn nghiện thuốc phiện... Bây giờ nhắc đến cảnh đó vẫn thấy đau lòng. Chỉ đến năm ấy bộ đội về với Huổi Tụ, dân bản mới vơi dần nỗi khổ cực - Vừ Zông Ziềng, trưởng tám dòng họ người Mông ở Huổi Tụ ngừng lời, ngước nhìn Thượng tá Võ Thanh Tùng, đội trưởng đội xây dựng cơ sở 1 tỏ vẻ biết ơn.

    No image available

    Đội trưởng, Thượng tá Võ Thanh Tùng đang hướng dẫn cho dân bản chăm sóc bầu chè san tuyết.

    Không phải bây giờ đội trưởng Tùng mới biết, còn bao nhiêu chuyện tập tục lạc hậu, cuộc sống như muông thú nơi sơn cùng, thủy tận nghe mà xót lòng. Tùng vẫn nhớ như in những ngày đầu đội công tác của anh lên nắm tình hình. Những đêm dưới chân núi Pu Phát sao mà buồn tê tái, xen trong tiếng thác nước đổ ầm ào là tiếng muông thú gọi bầy đến não ruột. Đêm ấy, trong túp nhà xiêu vẹo, ám khói, mái tranh lưa thưa, đội công tác dồn sức cứu chữa, băng bó cho Lì Chia Chống, do say thuốc phiện ngã xuống vách đá, toàn thân đầm đìa máu...

    Nguyên nhân chính của tình hình trên là do cấp ủy, chính quyền chưa biết cách lãnh đạo, điều hành, các đoàn thể không hoạt động. Hầu hết các bản không có chi bộ. Các bản Huổi Thăng, Huổi Lê, Huổi Ức không có đảng viên. Nhiệm vụ hàng đầu của đội là củng cố xây dựng tổ chức Đảng, bộ máy chính quyền và các tổ chức quần chúng thanh niên, phụ nữ... Tổ chức Đảng, chính quyền và các tổ chức quần chúng dần dần được củng cố và đi vào hoạt động. Công việc cứ liền tay, từ sáng sớm bộ đội đã tổ chức cho bà con dân bản dọn vệ sinh, lợp lại mái tranh cho từng nóc, cắt tóc, tắm rửa cho trẻ nhỏ, khám bệnh, cấp thuốc miễn phí cho bà con. Anh em còn dành phần đường sữa, tấm đắp cho người già, con trẻ ốm yếu. Đêm đêm bộ đội cùng cấp ủy, chính quyền các cấp, các tổ chức quần chúng tổ chức tuyên truyền đường lối, chủ trương chính sách của Đảng đối với bà con các dân tộc vùng cao; tổ chức giao lưu văn nghệ...

    Một đêm, trưởng họ Mông là Vừ Zông Ziềng gặp đội trưởng Võ Thanh Tùng, giọng quả quyết: “Bộ đội có biết ăn củ nâu, củ mài không? Có bắt con thú trên đại ngàn không? Lên Huổi Tụ làm gì cho cực”. Tùng nhìn thẳng vào đôi mắt linh lợi của Vừ Zông Ziềng: “Đảng, Chính phủ, Cụ Hồ bảo bộ đội lên đây để cùng dân bản mình không săn con thú trên rừng, chỉ cắm đất ở một nơi thôi. Phải biết trồng cây lúa nước, chăn nuôi con lợn, con gà để rồi không ăn củ nâu, củ mài nữa. Dân bản và trẻ nhỏ phải được học con chữ của Cụ Hồ...”.

    Đôi mắt linh lợi, nếp nhăn trên mặt như phai đi và cả đôi tay chai sạn, xơ mướp của Vừ Zông Ziềng xiết chặt bàn tay Tùng: “Có chắc làm được không?”. Tùng nắm chặt tay Vừ Zông Ziềng: “Dân bản tin Đảng, tin bộ đội khắc làm được tất cả. Mình biết người Mông không thua kém các dân tộc khác”.

    Rồi cũng bắt đầu từ cái đêm cách đây 5 năm trước, cuộc họp mặt các già làng trưởng bản do đội công tác và cấp ủy, chính quyền tổ chức sao mà ấm cúng đến thế. Các nội dung bàn bạc như định canh, định cư, khai khẩn đất rừng trồng ruộng nước, mở lớp học chữ Cụ Hồ, xóa bỏ những tập tục lạc hậu, bảo vệ rừng; phát hiện và khai báo những kẻ lạ mặt... đều được các già làng, trưởng bản đồng ý với gương mặt rạng rỡ.

    Bây giờ thì Huổi Tụ đã vươn lên với cách làm ăn mới để xóa cái đói, cái nghèo, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Những con số mà đồng chí Hơ Ga Vừ, Bí thư Đảng ủy xã Huổi Tụ cho chúng tôi biết thật hấp dẫn.

    Bằng các nguồn vốn 134, 135 và các nguồn vốn khác của Nhà nước, đội công tác đã phối hợp với cấp ủy, chính quyền và các đoàn thể bám địa bàn, bám đối tượng “cầm tay chỉ việc” cho dân phát triển sản xuất. Dân bản đã có điện thắp sáng, hệ thống đường giao thông mặc dù đang mức cấp phối nhưng ô tô các loại có thể về đến từng bản. Ngoài các lớp xóa mù chữ của đội công tác, Huổi Tụ đã có cả hệ thống trường học các cấp từ mầm non đến trung học cơ sở thu hút hàng trăm con em đến trường. Hệ thống bệnh xá, nhà văn hóa cộng đồng cũng được xây cất khang trang. Hệ thống phát thanh, truyền hình đã phủ kín toàn xã. Từ một xã có 83% hộ đói nghèo nay giảm xuống còn 50,3%. Huổi Tụ đã ươm được hàng nghìn bầu che và đã trồng được hơn 200ha chè san tuyết đến cữ thu hoạch. Xã hình thành nhiều mô hình kinh tế hộ, kinh tế trang trại cho thu nhập bình quân 15-30 triệu đồng/hộ và không có hộ nào tái trồng cây thuốc phiện. Bộ đội về cắm bản giúp dân, giúp Đảng bộ, chính quyền; 16 bí thư, phó bí thư chi bộ từ bản đến xã đều trưởng thành, được dân tin. 11/11 bản quản lý bản, các tổ chức quần chúng đã được kiện toàn đi vào hoạt động. Chỉ tính riêng năm 2007, toàn Đảng bộ đã bồi dưỡng, kết nạp được 194 đảng viên, trong đó có 25 đảng viên nữ là dân tộc Mông. Đảng bộ Huổi Tụ từ một Đảng bộ yếu kém nhiều năm liền đã từng bước vươn lên và năm 2007, đạt Đảng bộ TSVM. 11/11 bản đều có chi bộ. Vừ Zông Ziềng đại diện các dòng họ người Mông (Hơ, Lênh, Vừ, Và, Dà, Zồng, Lầu) lặn lội về tận xã Nam Hưng, huyện Nam Đàn (quê hương Thượng tá Võ Thanh Tùng) xin họ mạc được chấp thuận cho dân bản anh nhập vào dòng họ dân tộc Mông ở Kỳ Sơn.

    Ngắm đất rừng Huổi Tụ khởi sắc tôi lại nhớ tới 9 gương mặt của đội công tác xây dựng cơ sở 1. Đó là Thượng tá Võ Thanh Tùng, Trung tá Nguyễn Văn Quang, Trung tá Bùi Xuân Hồng, Trung úy Vừ Xay Cở, Thượng úy Hà Minh Biên, Thiếu úy Nguyễn Hữu Hiên, Thiếu úy Nguyễn Văn Ngọc, Trung úy Nguyễn Đình Cường, Thiếu úy Vừ Bá Vả. Các anh không nói nhiều tới công việc mình làm được, mà qua gương mặt xanh xao, đôi mắt thâm quầng thì cũng hiểu được các anh vâng lời Đảng, gắn bó với bà con trọn nghĩa, vẹn tình biết nhường nào.

    Tiếp chúng tôi, Đồng chí Vi Hải Thành, Bí thư huyện ủy Kỳ Sơn cho biết:

    - Năm 2007, Đảng bộ, chính quyền, LLVT huyện chúng tôi đạt được 4 mục tiêu. Đó là: Không tái trồng cây thuốc phiện, không truyền đạo trái phép, không di dịch dân cư tự do và sau 46 năm, bây giờ Kỳ Sơn mới đạt được tiêu chuẩn Đảng bộ TSVM, đơn vị VMTD. Trong đó, có công lao rất lớn của LLVT tỉnh nhà nói chung, các đội công tác xây dựng cơ sở của Bộ CHQS tỉnh, các đồn biên phòng nói riêng.

    Bài và ảnh: THUẬN THẮNG

    host

    Ý kiến bạn đọc

    0 bình luận
    Đang tải reCAPTCHA...