Thứ Ba, 19/12/2006, 20:27

    Sự lựa chọn lịch sử(*)

    Như chúng ta đã biết, sau hơn 80 năm dưới ách thống trị tàn bạo của thực dân Pháp, nhân dân Việt Nam đã anh dũng đứng lên làm cuộc Cách mạng Tháng Tám vĩ đại, đánh đuổi Nhật-Pháp, giành được độc lập cho dân tộc. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được khai sinh với bản Tuyên ngôn khẳng định nền "tự do-độc lập", do Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố trước quốc dân và thế giới ngày 2-9-1945 tại Quảng trường

    Như chúng ta đã biết, sau hơn 80 năm dưới ách thống trị tàn bạo của thực dân Pháp, nhân dân Việt Nam đã anh dũng đứng lên làm cuộc Cách mạng Tháng Tám vĩ đại, đánh đuổi Nhật-Pháp, giành được độc lập cho dân tộc. Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được khai sinh với bản Tuyên ngôn khẳng định nền "tự do-độc lập", do Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố trước quốc dân và thế giới ngày 2-9-1945 tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội.

    Sau khi giành được độc lập, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gặp muôn vàn khó khăn tưởng chừng không vượt qua nổi. Nền kinh tế nước ta vốn nghèo nàn, lạc hậu, lại bị Pháp, Nhật vơ vét, bị chiến tranh và thiên tai tàn phá. Trong khi đó, nạn lụt lớn làm 9 tỉnh Bắc Bộ mất mùa, gần 2 triệu người bị chết trong nạn đói khủng khiếp. Sản xuất công nghiệp đình đốn, hàng vạn công nhân không có việc làm. Ngoại thương bế tắc, hàng hóa khan hiếm, giá cả cao vọt. Nền tài chính khó khăn, kho bạc trống rỗng. Ngân hàng Đông Dương vẫn nằm trong tay tư bản Pháp. Về văn hóa, hơn 90% dân số nước ta mù chữ.

    Hơn ai hết và hơn bất cứ lúc nào, Đảng và toàn dân ta muốn hòa bình để khôi phục, xây dựng đất nước, xây dựng cuộc sống hạnh phúc, ấm no cho nhân dân. Nhưng kẻ thù không cho chúng ta được như vậy.

    Ngay sau khi nước ta tuyên bố độc lập, các thế lực đế quốc, phản động cùng một lúc kéo vào Việt , tìm mọi cách tiêu diệt chính quyền cách mạng. Ở miền Bắc, gần 20 vạn quân Tưởng tiến vào chiếm đóng Thủ đô Hà Nội và hầu hết các thành phố, thị xã. Theo quân Tưởng, bọn phản động trong hai tổ chức Việt Nam Quốc dân đảng và Việt Nam Cách mạng đồng minh hội kéo về nước và lập chính quyền ở một số thị xã phía Bắc.

    Ở miền , ngày , quân Anh kéo vào Sài Gòn và theo quân Anh là những đơn vị bộ binh và xe bọc thép của quân đội viễn chinh Pháp. Ngày , quân Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn và sau đó đánh rộng ra các tỉnh Nam Bộ và Nam Trung Bộ.

    Trên đất nước ta chưa bao giờ cùng một lúc lại có nhiều kẻ thù như vậy. Trong khi đó, chính quyền cách mạng vừa mới thành lập chưa có kinh nghiệm xây dựng, tổ chức, quản lý đất nước. Lực lượng vũ trang cách mạng còn quá bé nhỏ, trang bị vũ khí thô sơ, kinh nghiệm chiến đấu còn ít. Không những vậy, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ ở vào thế bị bao vây bốn phía. Liên Xô-chỗ dựa của cách mạng thế giới lúc đó lại quá xa chúng ta.

    Vận mệnh của cách mạng Việt , của dân tộc Việt đang đứng trước thử thách vô cùng nghiêm trọng. Chính quyền nhân dân có thể bị lật đổ. Nền độc lập vừa mới giành được có thể bị thủ tiêu, nhân dân ta có nguy cơ trở lại cuộc sống nô lệ.

    Trước tình hình đó, Đảng ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá đúng tình hình, nhận thức rõ những khó khăn của ta, đồng thời cũng thấy được những mặt mạnh cơ bản của cách mạng, đề ra những chủ trương, giải pháp nhằm hy vọng đẩy lùi và ngăn chặn chiến tranh, hoặc hòa hoãn nhằm kéo dài thời gian hòa bình để chúng ta có điều kiện chuẩn bị khi chiến tranh xảy ra.

    1. Nỗ lực ngoại giao nhằm ngăn chặn chiến tranh

    Sau khi thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn và mở rộng chiến tranh ra các tỉnh Nam Bộ, ngày 25-11-1945, Trung ương Đảng ra Chỉ thị "Kháng chiến kiến quốc", xác định nhiệm vụ của "cuộc cách mạng Đông Dương lúc này vẫn là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Cuộc cách mạng ấy vẫn đang tiếp diễn, nó chưa hoàn thành và nước chưa được hoàn toàn độc lập”1.

    Nhưng lúc này nếu cùng một lúc chống cả quân Tưởng và thực dân Pháp, chúng ta sẽ khó đứng vững. Do vậy, để tránh tình thế bất lợi phải cùng một lúc chiến đấu với nhiều lực lượng phản động, Đảng ta chủ trương đẩy mạnh hoạt động ngoại giao với sách lược hòa hoãn với quân Tưởng, đàm phán với Pháp nhằm phá vỡ thế bao vây, uy hiếp của kẻ thù, ngăn chặn chiến tranh, kéo dài thời gian hòa hoãn để xây dựng lực lượng. Từ tháng 9-1945 đến tháng 3-1946, Đảng ta thực hiện chính sách tạm thời hòa hoãn với Tưởng trên miền Bắc để tập trung sức chống thực dân Pháp ở miền . Nội dung nhân nhượng chủ yếu là: Cung cấp lương thực cho quân đội Tưởng và tay sai của chúng; mở rộng 70 ghế trong Quốc hội cho Việt quốc và Việt cách không qua bầu cử và đưa một số đại diện của các đảng này vào Chính phủ Liên hiệp lâm thời; các lực lượng vũ trang được lệnh tránh xung đột với quân Tưởng, không để mắc vào cạm bẫy khiêu kích, kiếm cớ lật đổ chính quyền cách mạng của chúng.

    Với sách lược ngoại giao sáng suốt này, chúng ta đã làm thất bại âm mưu của Tưởng và thế lực phản động, giữ vững và củng cố chính quyền cách mạng, tạo điều kiện thuận lợi cho quân và dân cả nước tập trung lực lượng chống thực dân Pháp ở miền Nam.

    Ngày , Tưởng và Pháp ký Hiệp ước Hoa-Pháp thỏa thuận cho quân Pháp vào miền Bắc thay thế quân Tưởng để giữ gìn “trật tự” theo “Hiệp ước Quốc tế”. Đây là sự mua bán chính trị giữa các thế lực đế quốc nhằm hợp pháp hóa hành động xâm lược của Pháp ở Đông Dương. Sự liên minh giữa Pháp và Tưởng qua Hiệp ước Hoa-Pháp đã đẩy cách mạng nước ta trước “sự đã rồi”, buộc Đảng ta phải chọn con đường tạm thời hòa hoãn với Pháp để đẩy nhanh quân Tưởng về nước, kéo dài thời gian chuẩn bị kháng chiến.

    Thực hiện chủ trương đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ Việt ký với đại diện Chính phủ Pháp bản Hiệp định sơ bộ ngày . Theo Hiệp định này, về mặt pháp lý, Pháp công nhận Việt Nam là một quốc gia tự do, có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng. Về phía quân Pháp khi vào miền Bắc cũng được quy định rõ về địa điểm, thời gian và số lượng. Việc ký Hiệp định sơ bộ 6-3-1946 đã giúp chúng ta “tránh bất lợi phải cô lập chiến đấu cùng một lúc với nhiều lực lượng phản động…, bảo toàn thực lực, giành lấy giải pháp nghỉ ngơi và củng cố vị trí đã chiếm được, chấn chỉnh đội ngũ cách mạng bổ sung cán bộ, bồi dưỡng và củng cố phong trào…”2.

    Điều 3 của Hiệp định sơ bộ quy định “hai bên (Việt và Pháp) đình chiến để mở cuộc đàm phán chính thức và trong khi đàm phán, quân đội hai bên đóng đâu vẫn cứ đóng đấy”3.

    Trong bối cảnh lịch sử lúc này, việc Chính phủ ta ký với Pháp Hiệp định sơ bộ là một chủ trương đúng đắn, sáng tạo, là “mẫu mực tuyệt vời của sách lược Lêninnít về lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ địch và về sự nhân nhượng có nguyên tắc”4.

    Thực tế, Hiệp định sơ bộ tạo thời gian hòa hoãn để nhân dân ta củng cố thành quả cách mạng mới giành được, chuẩn bị điều kiện đưa sự nghiệp kháng chiến kiến quốc tiến lên một bước phát triển mới. Đối với nhân dân miền , Hiệp định sơ bộ tạo điều kiện cho lực lượng kháng chiến trở lại bám trụ ở thôn xã, tạo sức mạnh để cùng cả nước bước vào cuộc kháng chiến toàn quốc với tư thế và sức mạnh mới.

    Tiếp theo việc ký Hiệp định sơ bộ, ngày 25-3-1946, Phái đoàn Quốc hội Việt Nam do Phó trưởng ban Thường trực Quốc hội Phạm Văn Đồng dẫn đầu sang thăm nước Pháp. Ngày 29-5, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh cử Phạm Văn Đồng làm Trưởng đoàn thay mặt Chính phủ Việt đàm phán với Pháp.

    Cuộc đàm phán chính thức Việt-Pháp được tổ chức tại Phôngtennơblô (). Tuy nhiên, do dã tâm xâm lược của thực dân Pháp, cuộc đàm phán không đi đến kết quả. Tuy vậy, Chính phủ Việt vẫn kiên trì con đường đàm phán hòa bình, “Hội nghị Phôngtennơblô bị đình hẳn không có nghĩa là toàn bộ cuộc bang giao Việt-Pháp bị thất bại; Phôngtennơblô bị bỏ dở chứ không phải toàn bộ cuộc đàm phán Việt-Pháp phá liệt”5.

    Cũng trong thời gian này, theo lời mời của Chính phủ Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh lên đường thăm chính thức nước Pháp. Trong chuyến đi này, Người đã “… đem lá Quốc kỳ Việt Nam qua đến nước Pháp… làm cho số đông người Pháp trở nên bạn hữu của nhân dân Việt Nam, hết sức tán thành Việt Nam độc lập và Việt-Pháp cộng tác một cách thật thà, bình đẳng”6.

    Trong thời gian thăm Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gặp gỡ nhiều nhân vật quan trọng trong Chính phủ Pháp như Bộ trưởng Pháp quốc Hải ngoại Mariut Mutê (Marius Moutet) cùng các chính khách và đại diện các đảng phái, tổ chức chính trị ở Pháp. Ngày 14-9-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký với Bộ trưởng Pháp quốc Hải ngoại bản Tạm ước Pháp-Việt quy định một số điều về quan hệ tạm thời kinh tế, văn hóa giữa hai nước, đình chỉ chiến sự ở miền Nam, quyết định thời gian tiếp tục đàm phán Việt-Pháp vào đầu năm 1947.

    Cũng với mục đích tiếp tục đàm phán nhằm đẩy lùi hoặc tạm hoãn chiến tranh, trên đường về nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có cuộc gặp Cao ủy Pháp Đácgiăngliơ (D’Argenlieu) tại vịnh Cam Ranh vào ngày 18-10-1946 để bàn cách thức thực hiện Tạm ước 14-9. Trong cuộc gặp gỡ này, Cao ủy Pháp đồng ý bổ nhiệm một đại diện của Chính phủ Việt Nam để phối hợp thực hiện ngừng bắn, nhưng đòi quân đội Việt Nam tại miền Nam rút về miền Bắc. Ý đồ này của Pháp không được chấp nhận. Trong bức điện gửi cho Mariut Mutê, Đácgiăngliơ phải thừa nhận: “… Dù sao tôi vẫn có cảm tưởng rằng ông Hồ chân thành mong muốn, ít ra là trong một thời gian, sẽ tìm thấy ở sự giao hòa với Pháp một sự củng cố lại các kết quả đã giành được và bước đầu của những tiến bộ mới”7.

    PGS.TS NGUYỄN VĂN NHẬT-Viện trưởng Viện Sử học Việt

    (Còn nữa)

    * Đầu đề của Tòa soạn

    1. Đảng Cộng sản Việt . Văn kiện Đảng toàn tập, tập 8 (1945-1947), Nxb Chính trị quốc gia, H.2000, tr.26.

    2. Đảng Cộng sản Việt , Văn kiện Đảng toàn tập, tập 8, Sđd, tr.49.

    3. Như trên, tr.48.

    4. Lê Duẩn, Tuyển tập, tập 1, Nxb Sự thật, H.1987, tr.439.

    5. Đảng Cộng sản Việt , Văn kiện Đảng toàn tập, tập 8, Sđd, tr.117.

    6. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4 (1945-1946), Nxb Chính trị Quốc gia, H.1995, tr.417.

    7. Philippe Devillers: Pari-Sài Gòn-Hà Nội. Tư liệu lưu trữ về cuộc chiến tranh Việt 1944-1947. Nxb Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 2003, tr.204.

    host

    Ý kiến bạn đọc

    0 bình luận
    Đang tải reCAPTCHA...