Thứ Ba, 19/12/2006, 21:01

    Sự lựa chọn lịch sử(*)

    Cuộc gặp gỡ của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Cao ủy Pháp Đácgiăngliơ tại vịnh Cam Ranh ngày 18-10-1946, là nỗ lực cuối cùng của Chính phủ Việt Nam cùng với hàng loạt những hoạt động ngoại giao khác trong những năm 1945-1946, nhằm đẩy lùi chiến tranh hoặc là hòa hoãn kéo dài thời gian hòa bình để chúng ta thực hiện nhiều công việc cần kíp khác...

    (Tiếp theo và hết)

    Cuộc gặp gỡ của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Cao ủy Pháp Đácgiăngliơ tại vịnh Cam Ranh ngày 18-10-1946, là nỗ lực cuối cùng của Chính phủ Việt Nam cùng với hàng loạt những hoạt động ngoại giao khác trong những năm 1945-1946, nhằm đẩy lùi chiến tranh hoặc là hòa hoãn kéo dài thời gian hòa bình để chúng ta thực hiện nhiều công việc cần kíp khác. Nhưng như Chủ tịch Hồ Chí Minh nói trong "Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến": "Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa"(1).

    2. Nhận rõ âm mưu xâm lược của thực dân Pháp, chủ trương tích cực chuẩn bị mọi mặt cho kháng chiến

    Việc các nước đế quốc đem quân vào nước ta với dã tâm chống phá cách mạng Việt không phải là điều bất ngờ đối với chúng ta. Ngay từ khi chiến tranh thế giới thứ hai chưa kết thúc, Đảng ta đã chỉ rõ: "… Quân Đồng minh sắp vào nước ta và đế quốc Pháp lăm le khôi phục lại địa vị cũ ở Đông Dương"(2), hay "Sự mâu thuẫn giữa Anh-Pháp-Mỹ và Liên Xô có thể làm cho Anh-Mỹ nhân nhượng với Pháp để Pháp trở lại Đông Dương"(3).

    Đúng như dự đoán của chúng ta, chỉ 21 ngày sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tuyên bố thành lập, ngày 23-9-1945, thực dân Pháp nổ súng tấn công Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ hai của Pháp đối với Việt Nam. Cùng với chủ trương đẩy mạnh hoạt động ngoại giao nhằm ngăn chặn chiến tranh, hòa hoãn với các thế lực đế quốc, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương đẩy mạnh việc xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng, tích cực chuẩn bị lực lượng để tiến hành kháng chiến.

    Chỉ thị "Kháng chiến kiến quốc" ngày của Trung ương Đảng đã xác định nhiệm vụ chiến lược lúc này vẫn là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, khẩu hiệu đấu tranh lúc này vẫn là "Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết". Kẻ thù chính của ta là "thực dân Pháp xâm lược nên phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng"(4) và đề ra nhiệm vụ trước mắt là củng cố chính quyền cách mạng, chống thực dân Pháp, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống nhân dân. Những nhiệm vụ này quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ cho nhau và phải đồng thời được thực hiện.

    Trong khi đàm phán hòa bình và chuẩn bị kháng chiến, Đảng ta quán triệt quan điểm: "Điều cốt tử là trong khi mở cuộc đàm phán với Pháp, không những không ngừng một phút công việc sửa soạn, sẵn sàng kháng chiến bất cứ lúc nào và ở đâu, mà còn hết sức xúc tiến việc sửa soạn ấy, và nhất định không để cho việc đàm phán với Pháp làm nhụt tinh thần quyết chiến của dân tộc ta"(5).

    Với tinh thần đó, trong quá trình đàm phán với Pháp, chúng ta đã tận dụng thời gian hòa hoàn để triển khai một loạt công việc cần kíp can hệ đến an ninh đất nước. Trước hết là việc củng cố, xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân. Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh tiến hành việc Tổng tuyển cử, thành lập Chính phủ, soạn thảo Hiến pháp, kiện toàn chính quyền từ Trung ương đến cơ sở, mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất, Đảng rút vào hoạt động bí mật để tránh sự công kích của các thế lực thù địch…

    Về kinh tế-tài chính, Đảng tổ chức lạc quyên cứu đói, đẩy mạnh tăng gia sản xuất, khôi phục các nhà máy, hầm mỏ, lập ngân hàng, phát hành giấy bạc, tịch thu ruộng đất của địa chủ, phản động, chia lại ruộng đất, giảm tô cho nông dân, phát động nhân dân tự nguyện đóng góp tiền của thông qua "Tuần lễ vàng", "Quỹ độc lập", thực hiện chế độ đảm phụ quốc phòng…

    Về văn hóa-xã hội, Đảng vận động toàn dân xây dựng nền văn hóa mới, xóa bỏ tệ nạn xã hội, thực hiện nền giáo dục mới, phát động phong trào bình dân học vụ để diệt "giặc dốt"…

    Đi đôi với việc củng cố, xây dựng chính quyền cách mạng, Đảng ta chú trọng xây dựng quân đội quốc gia và lực lượng công an Việt Nam.

    Sau Cách mạng Tháng Tám thành công, Việt giải phóng quân đã phát triển và đổi thành Vệ quốc đoàn. Đến khi Chính phủ kháng chiến được thành lập, Vệ quốc đoàn được đổi thành Quân đội quốc gia Việt . Cuối năm 1946, lực lượng vũ trang tập trung ở Bắc Bộ và Trung Bộ có 30 trung đoàn, ở Nam Bộ có 25 chi đội. Tổng số quân gồm khoảng 80 vạn người. Ngoài ra, chúng ta đã tổ chức được gần một triệu du kích và tự vệ.

    Đối với ngành công an, ngày 21-2-1946, theo sắc lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Việt Nam công an vụ được thành lập trên cơ sở hợp nhất Sở cảnh sát và Sở liêm phóng. Lực lượng công an Việt Nam đã lớn mạnh và thực sự trở thành lực lượng nòng cốt, trung kiên trong cuộc đấu tranh giữ gìn trật tự xã hội, an ninh quốc gia, đập tan các âm mưu phản loạn của các thế lực thù địch, bảo vệ các cơ quan đầu não của Đảng và Nhà nước, bảo vệ cuộc sống yên lành của nhân dân.

    Tuy chúng ta chỉ có một thời gian ngắn hòa bình trong hòa hoãn, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân cả nước đã đẩy mạnh củng cố, xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân, tích cực chuẩn bị lực lượng để kháng chiến một khi khả năng hòa hoãn và hòa bình không còn nữa.

    3. Phát động kháng chiến toàn quốc khi thực dân Pháp bội ước

    Từ khi Pháp nổ súng xâm lược Sài Gòn và Nam Bộ, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kiên trì thực hiện đàm phán hòa bình với Chính phủ Pháp. Nhưng thực tế ở Đông Dương cho thấy, ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới. "Cái bộ ba Đácgiăngliơ, Pinhông, Valuy sau khi đã cân nhắc đắn đo kỹ lưỡng, đã cố tình gây ra xung đột nhằm loại bỏ ông Hồ Chí Minh và Việt Minh trước khi nối tiếp lại những cuộc đàm phán như đã dự định” (6).

    Thực dân Pháp đã bội ước Hiệp định sơ bộ 6-3-1946, Tạm ước 14-9-1946, tấn công nhiều nơi ở Nam Bộ, Nam Trung Bộ, khiêu khích nhiều nơi ở miền Bắc, từng bước leo thang chuẩn bị chiến tranh. Quân Pháp tổ chức tấn công Hải Phòng, Lạng Sơn, gây hấn ở Hà Nội, gây ra vụ tàn sát ở phố Hàng Bún, phố Yên Ninh ngày . Pháp liên tiếp gửi tối hậu thư cho Chính phủ Việt Nam đòi để chúng làm nhiệm vụ trị an ở Hà Nội, nếu không chấp nhận thì ngày 20-12-1946, quân Pháp sẽ chuyển sang hành động.

    Đứng trước tình hình thực dân Pháp đang mở rộng chiến tranh ra Thủ đô Hà Nội hòng lật đổ Chính phủ kháng chiến, tiêu diệt chính quyền dân chủ nhân dân, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh phải có sự lựa chọn lịch sử, một quyết định chiến lược để xoay chuyển tình thế khi Tổ quốc lâm nguy. Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá đúng tình hình và quyết định phát động chiến tranh cách mạng trên toàn quốc chống lại cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp.

    Đêm , quân và dân Hà Nội đã mở đầu cuộc kháng chiến toàn quốc với tinh thần "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh".

    Đêm 19 rạng sáng ngày , thay mặt Đảng và Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra "Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến".

    Hai khổ đầu trong "Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến" của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói lên được lòng yêu hòa bình, sự nhân nhượng để đổi lấy hòa bình, nhưng kiên quyết đứng lên thà hy sinh tất cả để bảo vệ tự do và độc lập: "... Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa!

    Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. (7)

    Hà Nội, với tiếng súng pháo đài Láng đã mở đầu cho cuộc kháng chiến toàn quốc của nhân dân ta. Cuộc chiến đấu 60 ngày đêm của quân và dân Hà Nội không chỉ đã tiêu diệt, tiêu hao một phần sinh lực địch, mà đã kìm chân địch trong thành phố để hậu phương tổ chức triển khai thế trận kháng chiến lâu dài, để bảo vệ cuộc Tổng di chuyển các cơ quan đầu não của Đảng, Chính phủ và các bộ, ngành về căn cứ an toàn tiếp tục cuộc kháng chiến thần thánh, trường kỳ nhưng kết thúc thắng lợi vẻ vang của dân tộc ta.

    Như vậy, qua 15 tháng từ 2-9-1945 đến ngày Toàn quốc kháng chiến 19-12-1946, Đảng và Chính phủ Việt Nam đã giương cao ngọn cờ đại đoàn kết dân tộc với khẩu hiệu "Dân tộc trên hết", "Tổ quốc trên hết", thực hiện chính sách nội trị và ngoại giao mềm dẻo, linh hoạt trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ. Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh một mặt chủ trương hòa hoãn với Pháp, nhân nhượng có nguyên tắc để tránh xung đột vũ trang, ngăn chặn chiến tranh, kéo dài thời gian hòa hoãn; mặt khác tích cực chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến, củng cố lực lượng trên chiến trường Nam Bộ và Nam Trung Bộ, củng cố chế độ dân chủ cộng hòa một cách toàn diện trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa, giáo dục, v.v..

    Đến khi thực dân Pháp cố ý gây chiến tranh, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động cuộc kháng chiến toàn quốc. Tinh thần cũng như chủ trương của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc kết và khẳng định: "Đồng bào tôi và tôi thành thực muốn hòa bình. Chúng tôi không muốn chiến tranh... Cuộc chiến tranh này chúng tôi muốn tránh bằng mọi cách... Nước Việt cần kiến thiết, nước Việt không muốn là nơi chôn vùi hàng bao nhiêu sinh mạng. Nhưng cuộc chiến tranh ấy, nếu người ta buộc chúng tôi phải làm thì chúng tôi sẽ làm... Dân tộc Việt đã sẵn sàng chịu đựng tất cả, chứ không chịu mất tự do. (8)

    PGS.TS. Nguyễn Văn Nhật - Viện trưởng Viện Sử học Việt

    * Đầu đề của Tòa soạn

    1. Đảng Cộng sản Việt . Văn kiện Đảng toàn tập, tập 8, Sđd, tr.160.

    2. Đảng Cộng sản Việt . Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7 (1940-1945). Nxb Chính trị Quốc gia, H.2000, tr.424.

    3. Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7, Sđd, tr.427.

    4. Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đảng toàn tập, tập 8, Sđd, tr.26.

    5. Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đảng toàn tập, tập 8, Sđd, tr.46.

    (6) Philippe Devillers: Pari-Sài Gòn-Hà Nội. Sđđ, tr.10.

    (7) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4. Sđđ, tr.480.

    (8) Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4. Sđđ, tr, 473.

    host

    Ý kiến bạn đọc

    0 bình luận
    Đang tải reCAPTCHA...