QĐND Online - Năm 19 tuổi, chàng trai dân tộc Nùng Hà Văn Đạt tạm biệt quê hương xã Phú Thịnh, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Bình lên đường nhập ngũ. Đây là một quyết định rất khó khăn và dũng cảm của cả anh cũng như gia đình, vì trước đó Đạt và một cô gái dân tộc Tày là công nhân của Nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ đang chuẩn bị lễ cưới...
![]() |
|
Trung tá Hà Văn Đạt xem lại những bức ảnh, một trong những kỷ vật khi vượt Trường Sơn năm xưa. |
Những người đã chiến đấu ở chiến trường miền bị thương trở về thường hay kể, đường ra trận muôn vàn khó khăn gian khổ. Người chiến sỹ phải vượt qua dãy Trường Sơn hơn với 1000km đường rừng núi, sông suối hiểm trở, đầy mưa bom, bão đạn. Có nhiều người đã yên nghỉ vĩnh viễn trên con đường huyền thoại ấy. Một số đồng đội nghe vậy đã rỉ vào tai Đạt: “Hay đi giữa đường chúng mình cùng trốn về”. “Không được. Như vậy là đào ngũ, là xỉ nhục đến quê hương, gia đình của mình. Chúng ta phải quyết tâm vượt Trường Sơn vào đánh giặc, giải phóng đất nước” – Đạt nghiêm mặt. Đoàn tàu hú còi từ từ rời ga Sen Hồ. Những người con xứ chè cố đưa ánh mắt xa xăm về phía Đại Từ, Phú Bình, Định Hóa... Ga Vinh tràn ngập bộ đội. Chẳng có thời gian để hỏi thăm, làm quen với nhau, đơn vị của Hà Văn Đạt nhanh chóng hành quân ra bến phà, lên ô tô tiến về phía . Vượt qua chặng đường dài đầy hố bom và nắng cháy rát rạt, các anh đến làng Ho nằm sát thị trấn Đồng Hới.
Đêm ngày 18-10, cái đêm đáng lẽ ra Hà Văn Đạt sẽ được ấm áp bên người vợ mới cưới, nhưng bàn tay của anh lại đan chặt vào bàn tay đồng đội trên những chiếc ô tô đi trong làn mưa xối xả về phía biên giới với nước bạn Lào. Những chiếc xe chật cứng, đi uốn éo trên chặng đường đầu tiên của dãy Trường Sơn hùng vĩ, làm một số người muốn văng xuống đất. Thế rồi xe ô tô không đi được nữa, những người lính phải hành quân bộ. Họ kết chặt với nhau với lời thề: “Dù khó khăn, gian khổ đến đâu cũng không đào, bỏ ngũ, không bỏ nhau”.
Chẳng biết đã hành quân được bao nhiêu cây số, nhưng đoàn quân cứ vơi dần, vơi dần vì ốm đau. Một buổi sáng đang mải miết bước đi, đại đội trưởng đại đội 1, tiểu đoàn 15, sư đoàn 304B (Đoàn 2238) của anh nói với mọi người: “Chúng ta đang ở trên bình độ 2600, có nghĩa là cách mặt biển 2,6km”. Chao ơi, bốn bề là mây. Đạt cảm giác như xòe hai bàn tay ra là có thể ôm đầy mây vào lòng. Giá nơi đây có những cô gái Tày, cô gái Nùng ngồi bán hồng ngâm, gảy đàn tính, thì nó chẳng khác gì đèo Mây, đèo Gió ở vùng Bắc Kạn cả. Nghe nói con đường đã có từ tháng 5-1959, nhưng ở độ cao như thế này, rừng núi hiểm trở vô cùng, mà chúng ta vẫn mở được một con đường để vận chuyển vũ khí, lương thực, con người chi viện cho chiến trường miền Nam, quả là huyền thoại.
Chuẩn bị đi vào địa phận các tỉnh Tây Nguyên, Hà Văn Đạt mừng quýnh khi gặp được người cậu của mình tên là Nguyễn Văn Vàng. Cậu Vàng nhập ngũ trước Đạt 2 năm. Trong một trận chiến đấu với quân thù, cậu đã bị thương rất nặng vào đầu. Nhìn dải băng quấn kín đầu của cậu nhuộm đầy máu, Đạt rơi nước mắt. Cậu Vàng nói với Đạt: “Đường vào còn gian nan lắm. Cháu cố gắng đừng để bị sốt rét nhé”. Anh mím môi gật đầu. Một lần khác, Hà Văn Đạt lại gặp một người cùng làng đi bộ đội từ năm 1967. Người đồng hương này bị thương do sức ép của bom và bị mảnh của nó chém mất một mảng trán. Phải khó khăn lắm Đạt mới nói chuyện được với anh. Anh tâm sự trong hơi thở: “Vào B2 còn phải vượt qua nhiều sông suối và đường rừng núi hiểm trở của Tây Nguyên. Cố gắng đi bám vào nhau”. Nghe câu nói ấy, Đạt hơi rùng mình. Anh tự hỏi: “Liệu mình có thể đi hết cung đường Tây Trường Sơn để vào được chiến trường hay không?”. Đồng đội của anh một số người đã có biểu hiện bi quan, lo ngại. Cũng may, do sống quen ở núi rừng, nên Đạt và người bạn thân của mình là Mông Chí Chiếu, người dân tộc Tày ở xã bên không bị những trận sốt rét quật ngã. Trên đường hành quân, ngoài số vũ khí, quân tư trang của mình ra, Đạt và Chiếu còn mang thêm cả vũ khí và quân trang của một số đồng đội bị sốt. Bước chân của các anh băng băng qua núi, qua đồi. Anh em trong đơn vị đã gọi Đạt và Chiếu là: “Những con báo của Trường Sơn”.
Lương thực cạn dần. Những người khỏe như Hà Văn Đạt, Mông Chí Chiếu bao giờ cũng được phân công đi trước cùng giao liên để đào củ mài để khi anh em đến trạm là đã có canh hoặc cháo củ mài ăn ngay. Một buổi tối của tháng 12-1970, đơn vị của Hà Văn Đạt dừng chân tại một cánh rừng trên địa phận tỉnh Gia Lai. Anh em triển khai đào bếp Hoàng Cầm nấu ăn. Khi bữa ăn chuẩn bị dọn ra, thì có cả đàn máy bay địch ầm ầm kéo đến. Biết giặc đã phát hiện được điểm tập kết của quân ta, chỉ huy ra lệnh cho anh em cơ động tránh bom đạn địch. Đạt và Chiếu mới rời nơi trú quân được 500m, thì bom đạn địch đã trút xuống như mưa. Tiếng bom nổ đinh tai, nhức óc, từng đám lửa cháy bốc lên. Rất may là đơn vị không ai bị thương vong. Sau lần ấy, anh em đã rút kinh nghiệm nghiêm túc trong việc giữ bí mật trên đường hành quân, nhất là khi nấu ăn.
Vượt qua các con sông Ea H’leo, Sê Pôn, Sê Rê Pốc…đơn vị của Hà Văn Đạt đã đặt chân lên tỉnh Prây-veng của nước bạn Cam-pu-chia. Đoàn quân với tổng số 640 người khi xuất phát ở đầu đường Trường Sơn, nay chỉ còn 210 người. Thế mà họ vẫn băng qua Xoài - riệp, vòng về ấp Gò Bói (thuộc huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp) để quần nhau với địch. Chiến đấu khắp vùng Khu 8 (cũ), vòng về một số tỉnh miền Đông Nam bộ, Hà Văn Đạt và Mông Chí Chiếu đã có mặt trong đoàn quân về giải phóng Sài Gòn trong mùa xuân 1975.
Ba mươi chín năm đã trôi qua, nhưng những ký ức về đường Trường Sơn huyền thoại ấy vẫn bổi hổi trong tâm hồn của Hà Văn Đạt. Anh nói với tôi: “Tôi khát khao sẽ có một lần được đi lại trên đường Trường Sơn, để tìm lại những kỷ niệm của một thời máu lửa”.
Bài và ảnh: Lê Phi Hùng
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận