Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) mỗi năm cung ứng hơn 90% sản lượng gạo xuất khẩu của cả nước. Trong mấy năm gần đây, ở ĐBSCL đã xuất hiện nhiều mô hình trồng lúa chất lượng cao, nhưng phần lớn theo hướng tự phát. Phóng viên Báo Quân đội nhân dân đã có cuộc điều tra về thực trạng sản xuất lúa gạo ở ĐBSCL, nhằm gợi mở về những giải pháp đưa sản xuất lúa, gạo ở “vựa lúa, gạo” của cả nước theo hướng
![]() |
|
Khu nghiên cứu giống lúa chịu mặn của Viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long
|
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) mỗi năm cung ứng hơn 90% sản lượng gạo xuất khẩu của cả nước. Trong mấy năm gần đây, ở ĐBSCL đã xuất hiện nhiều mô hình trồng lúa chất lượng cao, nhưng phần lớn theo hướng tự phát. Phóng viên Báo Quân đội nhân dân đã có cuộc điều tra về thực trạng sản xuất lúa gạo ở ĐBSCL, nhằm gợi mở về những giải pháp đưa sản xuất lúa, gạo ở “vựa lúa, gạo” của cả nước theo hướng bền vững.
Nhiều người ví hiện trạng trồng lúa ở ĐBSCL như một bức tranh muôn màu. Mỗi địa phương tổ chức sản xuất lúa gắn với tập quán, mô hình, loại giống khác nhau. Phần lớn đều tổ chức sản xuất manh mún, thiếu quy hoạch, khâu thu hoạch thất thoát nhiều, bảo quản kém, đặc biệt là các mô hình trồng lúa chất lượng cao chưa phát triển và nhân rộng ra các địa phương. Một trong những nguyên nhân quan trọng nhất là đưa giống lúa chất lượng cao vào gieo trồng nhưng khâu này đang bị bỏ ngỏ.
Giống nhiều nhưng chưa tốt
ĐBSCL có diện tích gieo trồng lên đến 4 triệu héc-ta lúa mỗi năm, sản lượng đạt khoảng 19 đến 20 triệu tấn. Những năm qua, năng suất, sản lượng lương thực mỗi năm đều tăng lên hơn 1 triệu tấn. Năm 2008, xuất khẩu 5 triệu tấn, năm 2009 xuất khẩu 6 triệu tấn gạo và năm 2010 này dự kiến xuất khẩu gạo cũng đạt khoảng 6 triệu tấn. Hiện nay, diện tích sản xuất lúa của Việt Nam xếp hạng thứ 5 thế giới, xuất khẩu gạo đứng thứ 2 trên thế giới. Gạo Việt đã được xuất khẩu sang 120 quốc gia và vùng lãnh thổ, chiếm 15% thị phần gạo toàn cầu.
Tuy nhiên, có một thực tế là nước ta xuất khẩu gạo nhiều nhưng lợi nhuận thấp, thương hiệu gạo Việt trên thị trường thế giới chưa xứng tầm với tiềm năng và thế mạnh của lúa gạo Việt . Vậy đâu là nguyên nhân căn bản làm cho giá gạo của Việt bị thua thiệt trên thị trường thế giới, đôi khi còn bị gạo Thái Lan cạnh tranh ngay trên thị trường nội địa. Trao đổi với chúng tôi về những nguyên nhân này, Giáo sư-Tiến sĩ Võ Tòng Xuân cho rằng:
- Chúng ta xuất khẩu lúa gạo đứng hàng thứ 2 thế giới bắt đầu từ năm 1989. Tuy nhiên, gạo Việt khi xuất khẩu chỉ mang nhãn hiệu chung chung. Vì vậy, khi để chung chung như vậy và không có thương hiệu thì giá mua rất thấp, không bằng những loại gạo có thương hiệu thật sự.
Qua tìm hiểu những nguyên nhân làm cho hạt gạo của Việt Nam chưa phát huy hết giá trị vốn có, nhiều nhà khoa học cho rằng, hệ thống sản xuất giống, công tác quản lý chất lượng giống lúa ở vựa lúa lớn nhất nước vẫn còn nhiều bất cập, chưa tương xứng với vị trí của vùng. Do vậy, rất khó đáp ứng đồng bộ về chủng loại và phẩm cấp của hàng xuất khẩu quy mô lớn.
Hiện nông dân ĐBSCL trồng rất nhiều loại lúa giống trên ruộng đồng, mỗi vùng lại ưa thích một loại giống khác nhau. Tuy rất nhiều giống lúa như vậy nhưng giống lúa có xác nhận cũng chỉ đáp ứng hơn 30% diện tích gieo sạ hằng năm. Trong đó, hệ thống sản xuất lúa giống chính quy đáp ứng được 9%, còn lại do 3.600 hợp tác xã, tổ hợp tác sản xuất, câu lạc bộ khuyến nông địa phương cung cấp. Trên thực tế, hằng năm ĐBSCL cần khoảng 400.000 tấn giống lúa xác nhận, nhưng nguồn cung không đáp ứng nhu cầu. Thậm chí, có thời gian dài, diện tích làm giống của vùng chỉ chiếm 2% trên tổng diện tích gieo sạ.
Để lấp vào số giống lúa thiếu đó, người nông dân phải tự lo liệu lấy, đa số họ chọn một loại lúa vụ trước đã cho năng suất cao để làm giống cho vụ gieo sạ năm sau, chứ không theo một tiêu chuẩn khoa học nào. Việc chọn giống lúa tự phát đó gây ra cảnh năm chọn được giống lúa tốt thì được mùa, có lãi, dễ tiêu thụ, nhưng có những năm chọn sai giống lúa gây ra cảnh được mùa, nhưng mất giá.
Quá nhiều mô hình sản xuất lúa
Tại ĐBSCL, suốt một thời gian dài, giống lúa xác nhận chỉ được trồng thấp hơn 2% diện tích gieo trồng. Từ năm 2001-2005, nhờ chương trình 1 triệu héc-ta lúa xuất khẩu, năm 2003, diện tích trồng lúa xác nhận đạt 10%, năm 2005 tăng lên 32%, bao gồm giống tương đương cấp xác nhận.
Đi tìm hiểu thực tế chúng tôi nhận thấy đã có rất nhiều địa phương đưa giống lúa chất lượng cao (CLC) vào sản xuất mang lại hiệu quả cao. Cụ thể như tỉnh Long An nhân rộng mô hình trồng lúa Nàng thơm Chợ Đào; tỉnh An Giang đang thực hiện chương trình xây dựng chất lượng thương hiệu gạo xuất khẩu theo tiêu chuẩn Global GAP (thực hành nông nghiệp tốt toàn cầu) hơn 3 dòng lúa gạo đặc sản nổi tiếng của địa phương là Nàng Nhen Bảy Núi, gạo thơm Châu Phú và nếp Phú Tân; tại tỉnh Bạc Liêu đã thành công trong việc xây dựng mô hình trồng 18.722 héc-ta lúa chất lượng cao với giống lúa Một bụi đỏ Hồng Dân; Những năm gần đây, tỉnh Sóc Trămg cũng đã lai tạo thành công những dòng lúa đặc sản gạo thơm Sóc Trăng như: ST3, ST5, ST10... và đưa vào trồng trên diện tích lớn cho năng suất cao, phẩm gạo tốt được thị trường trong nước và nước ngoài ưa chuộng với giá bán trên thị trường hiện nay từ 15.000 đến 17.000 đồng/kg. Nhờ trồng thử nghiệm đạt hiệu quả cao, tỉnh Sóc Trăng đã quy hoạch vùng lúa đặc sản tại 4 huyện là: Ngã Năm, Thành Trị, Mỹ Tú, Kế Sách phấn đấu đưa diện tích lên 50.000 héc-ta vào năm nay và đến năm 2020 sẽ là 100.000 nghìn héc-ta.
Mô hình lúa nhiều, nhưng thực tế đang diễn ra tình trạng “Mỗi địa phương một kiểu”. Việc “quy hoạch” giống lúa chất lượng cao, phù hợp với điều kiện sản xuất tự nhiên của mỗi địa phương chưa có nên đã khiến cho người nông dân “tự bơi”. Có nhiều người mạnh dạn áp dụng sản xuất giống lúa mới nhưng, do thiếu nhiều điều kiện và kỹ thuật kèm theo nên hiệu quả không cao, nên phải đành quay lại với các giống lúa truyền thống với mong muốn bảo đảm phải có lãi, dù không cao, nhưng lại an toàn.
Bài và ảnh: Bá Hiên, Trung Kiên, Nguyễn Kiểm
(Còn nữa)
Bài 2: Nhận diện mô hình trồng lúa chất lượng cao
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận