Thứ Sáu, 28/08/2009, 13:43

    Bao giờ hết cảnh ăn đong?

    Còn gần một tháng nữa, các nhà máy đường ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) mới bước vào sản xuất mía chính vụ. Tuy nhiên, các nhà máy nơi đây lại đang phải đối mặt với nguy cơ thiếu mía sản xuất trong niên vụ mía đường 2009-2010. Đây là vấn đề “nóng” đặt ra tại hội nghị sản xuất và tiêu thụ mía đường vụ 2009-2010 do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN và PTNT) tổ chức mới đây tại tỉnh Hậu

    No image available

    Mía chờ nhập nguyên liệu ở Nhà máy đường Phụng Hiệp, Hậu Giang

    Còn gần một tháng nữa, các nhà máy đường ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) mới bước vào sản xuất mía chính vụ. Tuy nhiên, các nhà máy nơi đây lại đang phải đối mặt với nguy cơ thiếu mía sản xuất trong niên vụ mía đường 2009-2010. Đây là vấn đề “nóng” đặt ra tại hội nghị sản xuất và tiêu thụ mía đường vụ 2009-2010 do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN và PTNT) tổ chức mới đây tại  tỉnh Hậu Giang.

    Vụ mía mới, nỗi lo cũ

    Không phải đến thời điểm này, các nhà máy sản xuất đường ở ĐBSCL mới đối diện với tình trạng lo lắng về việc thiếu nguyên liệu để sản xuất. Toàn vùng ĐBSCL hiện có trên 4.000ha mía ở vùng nguy cơ ngập lũ với sản lượng khoảng 300.000 tấn, nay mới 7-8 tháng tuổi. Đây là giai đoạn mía đang tích lũy đường, nếu thu hoạch sớm thì năng suất tính ra mất đi bình quân 24 tấn/ha cộng thêm trữ lượng đường thấp, tính ra với 4.000ha mía sẽ làm thất thu cho cả nông dân và giảm hiệu quả kinh tế cho nhà máy hơn 62 tỉ đồng. Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Bùi Bá Bổng yêu cầu từ nay tới đầu tháng 9, các nhà máy  đường phải có sự thống nhất số lượng mía mua thêm ở các tỉnh có vùng nguyên liệu, tính toán giá mía đảm bảo yêu cầu hài hòa lợi ích giữa nhà máy và nông dân để nông dân không bị lỗ. Đối với vùng mía chạy lũ ở Phụng Hiệp, Thứ trưởng Bùi Bá Bổng đề nghị các địa phương khảo sát cụ thể và quyết định thời điểm vào vụ, nếu không lụt thì không được thu hoạch sớm.

    Kết thúc niên vụ 2008-2009, tổng sản lượng đường cả nước chỉ đạt 1,15 triệu tấn, giảm khoảng 50.000 tấn so với niên vụ trước. Hầu hết các tỉnh ở ĐBSCL đều giảm diện tích trồng mía: Hậu Giang hiện có 13.000ha, giảm 2.000ha so niên vụ trước. Tỉnh Sóc Trăng, địa phương từng được đánh giá là nơi có vùng trồng mía khá ổn định 12.000ha, nay giảm xuống còn 11.300ha.  Tỉnh Bến Tre với 6.700ha mía nay giảm xuống còn 5.074ha, chỉ đủ cung cấp cho nhà máy đường trong tỉnh…

    Tỉnh Long An trước đây diện tích mía có tới 19.000ha giờ còn 13.700ha và dự báo năm tới tiếp tục giảm thêm 1.000ha do cây mía không còn hấp dẫn người nông dân, cộng thêm áp lực các khu công nghiệp đè nặng lên cây mía. Tương tự, Trà Vinh chỉ có 4.300ha mía. Cà Mau từ 4.600ha đến nay chỉ còn khoảng 2.000ha. Chỉ riêng Kiên Giang là diện tích mía tăng so với niên vụ trước, toàn tỉnh hiện có 4.106ha, tăng 300ha…

    Tháo gỡ khó khăn bằng cách nào?

    Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Hậu Giang, ông Nguyễn Văn Đồng cho rằng, diện tích trồng mía giảm mạnh do thu nhập của người trồng mía bấp bênh và thấp hơn trồng lúa, nhiều người đã phá mía trồng lúa. Thực tế, nguyên liệu mía luôn trong tình trạng bấp bênh, không ổn định, lúc thừa, lúc thiếu là do công tác quy hoạch vùng nguyên liệu trồng mía chưa được doanh nghiệp quan tâm, cùng phối hợp thực hiện. Nguyên nhân thứ hai, đặc biệt quan trọng chính là thiếu sự liên kết giữa các nhà máy và nông dân trồng mía. Ở một vài địa phương, nông dân đã thực hiện liên kết với nhà máy, nhưng chỉ mới dùng lại ở hình thức, những cam kết thường ít được thực hiện. Nhà máy và người trồng mía luôn trong tình trạng “ông chẳng, bà chuộc”, sẵn sàng hủy bỏ hợp đồng, chấp nhận bồi thường (khoản bồi thường trong hợp đồng thường rất thấp) do khoản lợi nhuận từ việc phá bỏ hợp đồng cao hơn với mức bồi thường theo hợp đồng. Tình trạng này dẫn đến việc khi thừa nguyên liệu thì nhà máy “thừa nước đục thả câu” ép giá nông dân, còn lúc khan hiếm nguyên liệu nông dân lại ép lại nhà máy. Lợi nhuận thấp, bấp bênh, thậm chí thua lỗ khiến nhiều nông dân không còn mặn mà với cây mía, họ chuyển sang nuôi trồng các cây, con khác. Thêm vào đó, ở một số địa phương (điển hình như Hậu Giang) vùng trồng mía vẫn còn chịu ảnh hưởng rất lớn từ lũ, do chưa có hệ thống đê bao khép kín, phải thu hoạch mía chạy lũ trong khi mía chưa đạt trữ đường, gây thiệt hại cho người nông dân.

    Theo đánh giá của Cục Chế biến, Bộ Nông nghiệp và PTNT, sức cạnh tranh của cây mía Việt Nam là thấp nhất trong khu vực Đông Nam Á. Điều kiện đặc thù của vùng ĐBSCL là vào vụ sớm chạy lũ, ép mía chất lượng thấp, hiệu quả thu hồi đường không cao, đây là một thiệt thòi chung cho cả vùng. Vì vậy, các nhà máy nên cân nhắc vào vụ thích hợp, không nên vì cạnh tranh vào vụ quá sớm khi hàm lượng đường trong mía còn quá thấp. Chỉ nên thu mua những khu vực trồng mía trong trường hợp buộc phải thu hoạch sớm để chạy lũ, còn các vùng cao, không bị ngập chờ mía đạt trữ đường phù hợp. Như vậy, nhà máy và người nông dân sẽ không bị thiệt hại. Về lâu dài, rất cần các nhà máy và các địa phương tổ chức quy hoạch vùng  trồng mía phù hợp. Chính sách thu mua mía giữa nhà máy và nông dân phải đảm bảo hài hòa lợi ích, cùng chia sẻ thuận lợi, khó khăn. Như vậy, mới khuyến kích được nông dân trồng mía, xây dựng vùng nguyên liệu phát triển bền vững, góp giải quyết những khó khăn, bấp bênh về nguyên liệu mía như hiện nay.

    Bài và ảnh: NGUYỄN KIỂM

    host

    Ý kiến bạn đọc

    0 bình luận
    Đang tải reCAPTCHA...