Thứ Sáu, 03/11/2006, 21:44

    Chăn nuôi đã qua cơn bĩ cực

    Đến thời điểm hiện nay, mối hiểm họa lớn của ngành chăn nuôi nước ta là dịch lở mồm, long móng gia súc và dịch cúm gia cầm, đã qua thời điểm nghiêm trọng nhất. Dồn sức phát triển đàn gia súc, gia cầm đang là một thách thức lớn ở các địa phương, không những để lấy lại sự cân bằng trong cơ cấu nền kinh tế nông nghiệp, mà còn chuẩn bị cho cuộc hội nhập...

    No image available

    Đến thời điểm hiện nay, mối hiểm họa lớn của ngành chăn nuôi nước ta là dịch lở mồm, long móng gia súc và dịch cúm gia cầm, đã qua thời điểm nghiêm trọng nhất. Dồn sức phát triển đàn gia súc, gia cầm đang là một thách thức lớn ở các địa phương, không những để lấy lại sự cân bằng trong cơ cấu nền kinh tế nông nghiệp, mà còn chuẩn bị cho cuộc hội nhập. Trước ngưỡng cửa WTO, ngành chăn nuôi nước ta được nhiều người ví như một võ sĩ chưa hồi phục chấn thương nặng, đã phải thượng đài...

    Từ thực tế ở “trung tâm" chăn nuôi heo...

    Chúng tôi về Đồng Nai, tỉnh có tốc độ phát triển chăn nuôi heo (lợn) vào hàng đầu, nơi được mệnh danh là "trung tâm" chăn nuôi heo của cả nước. Trong lúc ở các địa phương khác, tỷ lệ gia súc mắc bệnh lở mồm, long móng rất cao, thì ở Đồng Nai, số gia súc nhiễm bệnh chủ yếu rơi vào các hộ chăn nuôi nhỏ lẻ, không bảo đảm các tiêu chuẩn kỹ thuật. Còn hệ thống chăn nuôi theo mô hình trang trại tập trung, đa số vẫn đứng vững.

    Sự thăng trầm của nghề chăn nuôi ở địa phương này giữ vai trò rất quan trọng, chi phối hoạt động cung cấp nguồn thực phẩm ở các địa phương khu vực Đông Nam Bộ, nhất là Thành phố Hồ Chí Minh. Theo thống kê của Sở NN và PTNT Đồng Nai, tổng số đàn heo trong tỉnh có hơn một triệu con. Gần đây, bình quân mỗi năm Đồng Nai cung cấp cho thị trường khoảng 120 nghìn tấn heo hơi. Mô hình phát triển chăn nuôi trang trại khép kín, theo hình thức nuôi công nghiệp được triển khai trên diện rộng. Nhiều trang trại có tổng số đàn heo lên đến hàng ngàn con. Đồng Nai cũng là địa phương đi đầu trong việc áp dụng công nghệ sinh học vào chăn nuôi theo tiêu chuẩn của các nước tiên tiến, nhất là chương trình phát triển đàn heo theo hướng nạc hóa, tỷ lệ nạc hóa được nâng từ 35-40% lên 50-60%. “Cơn bão” lở mồm, long móng ập đến đã làm cho giá heo liên tục giảm, trong khi chi phí thức ăn lại tăng, người nuôi bị lỗ nặng.

    Ông Bá Khoát, là một trong số người nuôi heo thành công nhất ở Đồng Nai, với hệ thống trang trại chăn nuôi có hàng nghìn con, cho biết: Hệ thống trang trại của ông tuân thủ nghiêm ngặt quy trình phòng dịch nên không hề hấn gì. “Chết” là ở chỗ, giá heo trong thời điểm có dịch quá rẻ mạt, bị thương lái thao túng nên heo bệnh, heo lành cũng cùng chung một giá.

    Theo tính toán của người chăn nuôi, một lứa heo thịt nuôi khoảng 4 tháng là phải xuất chuồng. Để muộn ngày nào là tốn kém ngày đó, vì chi phí thức ăn hằng ngày lên đến tiền triệu. Trong thời điểm dịch bệnh, trung bình mỗi tháng ngành chăn nuôi của tỉnh lỗ khoảng 20 tỷ đồng. Hiện nay, khi giá heo hơi đã nhích dần trở lại, nhưng người chăn nuôi vẫn luôn nơm nớp lo cho sự ổn định của đầu ra sản phẩm. Anh Lâm Thành Mỹ, chủ trại nuôi gần 1.000 con heo ở xã Hiệp Hòa, TP Biên Hòa, Đồng Nai, cho biết: Giá heo hơi nhích lên chưa đủ bù cho chi phí chăn nuôi. Thời gian qua, mỗi lứa xuất chuồng khoảng 100 con heo, anh lỗ hơn 10 triệu đồng. Bảo vệ được đàn heo an toàn trong cơn đại dịch tưởng là một thành công nhưng thất bại vẫn hoàn thất bại, vì việc nuôi, bán heo tất cả đều do chủ trang trại tự xoay xở. Tư thương tha hồ lợi dụng vào đó để ép giá. Hiện nay người chăn nuôi ở Đồng Nai đang ở thế cầm cự, không dám đầu tư phát triển tiếp.

    ...Đến giải pháp vượt qua khó khăn?

    Dù bị dịch bệnh hoành hành, song theo số liệu của Tổng cục Thống kê, 9 tháng đầu năm 2006, tổng số đàn trâu cả nước gần 3 triệu con, đàn bò hơn 6,5 triệu con, đàn heo gần 27 triệu con, đàn gia cầm hơn 214,6 triệu con. Nhìn chung tổng số đàn gia súc, gia cầm trên biểu đồ tăng trưởng vẫn là hướng đi lên. Theo ông Nguyễn Đăng Vang, Cục trưởng Cục Chăn nuôi (Bộ NN và PTNT), hai mặt hàng chiến lược của chăn nuôi cả nước là thịt bò và thịt heo. Năng suất của hai mặt hàng này có tăng lên nhưng vẫn thấp so với khu vực. Lượng xuất chuồng bình quân của heo nước ta khoảng 63kg/con, trong lúc ở Trung Quốc là 80-90kg/con. Khả năng cạnh tranh vì thế sẽ hạn chế.

    Điểm yếu chung của ngành chăn nuôi nước ta là mang tính phân tán, tự phát, thiếu qui hoạch và chuyên nghiệp. Sau dịch bệnh, một số địa phương thiếu trầm trọng nguồn giống chất lượng cao. Một bộ phận không nhỏ hộ gia đình phát triển chăn nuôi thiếu vốn, thiếu kiến thức về kỹ thuật, thú y... nên không dám đầu tư tiếp.

    Theo các nhà quản lý, hai vấn đề trọng tâm cần giải quyết cấp bách hiện nay là bảo đảm an toàn cho đàn gia súc, gia cầm, không để dịch bệnh tái bùng phát và thúc đẩy các giải pháp ổn định đầu ra cho sản phẩm chăn nuôi. Giải pháp cơ bản, lâu dài là tập trung phát triển chăn nuôi theo qui trình công nghiệp, ứng dụng khoa học công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng, hạ giá thành sản phẩm tạo lợi thế cạnh tranh với thực phẩm ngoại nhập ngay trong nước. Mục tiêu của ngành chăn nuôi Việt đến năm 2010 sẽ vươn lên thành ngành sản xuất chính. Theo đó, sẽ phát triển đàn bò thịt lên khoảng 7,1 triệu con, đạt năng suất khoảng 210.000 tấn thịt; 3,1 triệu con trâu, năng suất gần 73.000 tấn thịt; 32,8 triệu con heo, năng suất 3,2 triệu tấn thịt; 2,5 triệu con dê và cừu; đàn gia cầm và thủy cầm khoảng 283 triệu con. Để bảo đảm thực hiện mục tiêu này, các địa phương cả nước phải có khoảng 140.000ha đất trồng cỏ. Việc sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm đến năm 2010 phải đạt năng suất 11 triệu tấn thức ăn.

    Định hướng là như vậy, nhưng thực hiện đạt mục tiêu đó trong bối cảnh hiện nay còn gặp không ít khó khăn. Qua thực tế của Đồng Nai, các nhà quản lý cho rằng, vấn đề mấu chốt là tìm giải pháp cho sự phát triển ổn định và bền vững, mà chìa khóa là bảo đảm đầu ra sản phẩm. Tại sao trong thời điểm dịch bệnh, hệ thống trang trại chăn nuôi vẫn đứng vững, mà người chăn nuôi lại phải điêu đứng vì lỗ? Ấy là bởi mạng lưới tiêu thụ sản phẩm của chúng ta còn quá nghiệp dư, người chăn nuôi lệ thuộc quá nhiều vào sự thao túng của thương lái. Nếu chúng ta phát triển được mạng lưới tiêu thụ sản phẩm theo hướng thực phẩm sạch, an toàn rộng khắp, qui trình thực hiện mang tính chuyên nghiệp cao, bảo đảm độ tin cậy đối với người tiêu dùng, thì người chăn nuôi theo mô hình công nghiệp không phải chịu nghịch lý như vậy.

    Sự liên kết “4 nhà” từ chủ trương đến thực tế đang còn khoảng cách khá xa. Hỗ trợ cho các chủ trang trại giải quyết đầu ra sản phẩm theo mức giá hợp lý, tránh bị tư thương thao túng, ép giá vừa là việc cấp bách vừa lâu dài của nhà doanh nghiệp trong vai trò liên kết này. Việc đầu tư phát triển chăn nuôi theo mô hình công nghiệp trên diện rộng cần một nguồn vốn rất lớn và lộ trình để người chăn nuôi làm quen, tiến tới làm chủ tiến bộ KHKT, xóa bỏ thói quen chăn nuôi lấy công làm lời. Vấn đề này cần có chính sách đầu tư, hỗ trợ của Nhà nước.

    Qua khảo sát và trao đổi với các chủ trang trại lớn, các nhà quản lý ở Đồng Nai, chúng tôi thấy không nên triển khai cùng một lúc, trên diện rộng, mô hình chăn nuôi theo hình thức trang trại tập trung, áp dụng qui trình công nghiệp. Bởi để làm được điều này đòi hỏi người chăn nuôi phải có thời gian tích lũy kiến thức, kinh nghiệm, đồng thời tự chủ được về các dịch vụ thức ăn, thú y. Nếu không tỷ lệ rủi ro sẽ rất lớn. Các địa phương cần chọn những địa bàn thuận lợi, hội tụ đủ tiêu chuẩn để triển khai mô hình với qui mô phù hợp. Vừa lo nâng sản lượng đầu vào phải đồng thời tính đến “cửa” cho đầu ra. Nếu không thì cả “4 nhà” đều làm giàu cho thương lái. Và như thế, “chàng võ sĩ chăn nuôi” vừa trải qua chấn thương nặng, sẽ khó đủ sức so găng với đối thủ trên “võ đài” WTO.

    Bài và ảnh: PHAN TÙNG SƠN

    host

    Ý kiến bạn đọc

    0 bình luận
    Đang tải reCAPTCHA...