Thứ Bảy, 20/12/2008, 20:02

    Đầu tư thỏa đáng để cơ giới hóa nông nghiệp

    Hiện nay yêu cầu về máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất nông nghiệp ngày càng tăng cao, nhưng để đưa máy móc vào sản xuất phù hợp, hiệu quả, thực hiện cơ giới hóa nông nghiệp cần phải có chính sách đồng bộ và sự quan tâm đầy đủ từ phía Nhà nước, đặc biệt là chính quyền địa phương...

    No image available

    Cơ giới hoá nông nghiệp. Ảnh: Internet

    Hiện nay yêu cầu về máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất nông nghiệp ngày càng tăng cao, nhưng để đưa máy móc vào sản xuất phù hợp, hiệu quả, thực hiện cơ giới hóa nông nghiệp cần phải có chính sách đồng bộ và sự quan tâm đầy đủ từ phía Nhà nước, đặc biệt là chính quyền địa phương. GS.TSKH Phạm Văn Lang, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Cơ khí Nông nghiệp Việt Nam, Nguyên Viện trưởng Viện Cơ điện Nông nghiệp đã chia sẻ với chúng tôi những đánh giá về vấn đề này.

    Ngành nông nghiệp ngày càng phải công nghiệp hóa

    - Giáo sư nhận định thế nào về vị trí của ngành cơ điện nông nghiệp trong tiến trình CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn?

    - Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7 (khóa X) đã nhấn mạnh: hiện đại hóa ngành trồng trọt trên cơ sở đẩy mạnh tổ chức vùng sản xuất hàng hóa tập trung gắn liền với chế biến và ứng dụng khoa học công nghệ, trong đó đã nhấn mạnh: tăng cường thực hiện cơ khí hóa các khâu sản xuất nông nghiệp, trước hết là các khâu sản xuất quan trọng.

    Có thể thấy, quá trình phát triển cơ điện nông nghiệp ở Việt Nam trong những năm qua đã đạt nhiều thành tựu đáng kể. Đến năm 2007, diện tích được cơ giới hóa khâu làm đất đạt 70%; tưới tiêu nước đạt 85%; tuốt lúa đạt » 84%; xay xát lúa gạo đạt 95%. Máy gặt đập liên hợp lúa đã phát triển nhanh ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đầu năm 2008, cả nước trang bị khoảng 5.000 chiếc, riêng ĐBSCL đảm bảo gặt khoảng 10% diện tích lúa. Với gần 100.000 phương tiện vận tải nông thôn (đường thủy và bộ), nông dân đã chuyển hầu hết vật tư nông nghiệp, nông sản sau thu hoạch về gia đình hoặc đi bán. Trong chế biến nông-lâm-thủy sản, đến nay đã có 4.100 cơ sở chế biến công nghiệp ở nông thôn; trong đó có 1.253 nhà máy chế biến nông-lâm-thủy sản, qui mô vừa và lớn với công nghệ hiện đại, tạo bước đột phá phát triển của ngành. Ngoài ra, các thành phần kinh tế đã đầu tư, trang bị gần 300.000 máy móc-thiết bị (qui mô nhỏ) phục vụ cho khâu chế biến, bình quân 2,1¸2,5 cơ sở chế biến/100 hộ nông dân. Cơ giới hóa khâu khai thác hải sản đã tăng nhanh: khoảng 5.800.000 mã lực, đánh bắt hơn 1.000.000 tấn/năm.

    - Hình thức đầu tư cơ giới hóa chủ yếu hiện nay là gì, thưa Giáo sư?

    - Phương thức đầu tư chủ yếu là nông dân bỏ vốn mua máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất cho gia đình và làm dịch vụ (khoảng 95% số máy móc, thiết bị do dân tự đầu tư). Cơ điện khí hóa nông nghiệp đã góp phần đổi mới lực lượng sản xuất, sử dụng có hiệu quả lao động, khai thác tiềm năng đất đai, góp phần đắc lực trong phát triển kinh tế nông thôn.

    Tuy Nhà nước chưa có chủ trương, biện pháp thúc đẩy ngành cơ điện nông nghiệp phát triển, nhưng xuất phát từ nhu cầu thực tế và từ kinh nghiệm ban đầu của Nghệ An, Lạng Sơn, đến nay đã có trên 40 thành phố, tỉnh đề ra biện pháp thiết thực: tập trung đầu tư cho cơ sở chế tạo máy, nông dân được vay vốn trung hạn không lãi, tổ chức tiếp thị và dịch vụ bảo hành đến người tiêu dùng… làm đòn bẩy cho ngành cơ điện phục vụ quá trình cơ giới hóa trước, trong và sau thu hoạch.

    Cơ giới hóa chưa xứng tầm phát triển của nền nông nghiệp

    - Thưa Giáo sư, những hạn chế của quá trình phát triển nông nghiệp ở nước talà gì?

    - Việc đầu tư công nghệ-thiết bị máy móc cơ điện phục vụ cơ giới hóa nông nghiệp trong thời gian qua chủ yếu là do nhu cầu của các thành phần kinh tế, thiếu sự quản lý và chỉ đạo thống nhất giữa các ngành từ trung ương đến địa phương, chưa có sự trợ giúp tạo điều kiện phát triển công nghệ, thiết bị. Ví dụ như phát triển cơ giới hóa trong ngành thủy sản tuy đã có bước trưởng thành, tuy nhiên tiềm lực nói chung còn yếu, thiếu. Cơ giới hóa khâu đánh bắt, chế biến chưa đủ điều kiện để trở thành ngành sản xuất hàng hóa.

    Bên cạnh đó, công tác đào tạo, bồi dưỡng, hướng dẫn sử dụng máy móc phục vụ quá trình cơ giới hóa-điện khí hóa nông nghiệp, nông thôn chưa được chú trọng. Thu nhập bình quân đầu người cao hơn nhiều, nhưng không đều giữa các vùng. Sản xuất nông nghiệp tuy được mùa, nông dân tiêu thụ được sản phẩm lương thực, cây công nghiệp ngắn ngày, dài ngày, cây ăn quả, chăn nuôi… đời sống nông dân có khá lên nhưng giá nông sản bấp bênh và còn thấp, trong khi đó giá máy nông nghiệp cao. Khả năng tích lũy để mua sắm máy móc, trang bị các dây chuyền chế biến đồng bộ của các thành phần kinh tế còn rất hạn chế.

    - Vậy những rào cản chính là gì?

    - Tại nhiều địa phương, thực hiện chính sách hỗ trợ, quy trình, thủ tục còn rườm rà, phức tạp. Ðặc biệt, việc thẩm định cho vay vốn của ngân hàng rắc rối, tốn rất nhiều thời gian, bỏ lỡ thời vụ.

    Trên thị trường, nguồn máy sản xuất trong nước hạn chế về số lượng, chất lượng, nhỏ hẹp thị phần, bất hợp lý chủng loại và giá cả. Nguồn nhập khẩu có hiện tượng gian lận, trốn thuế, hàng qua sử dụng không rõ nguồn gốc, làm ảnh hưởng sản xuất cơ khí trong nước, môi trường cạnh tranh và quá trình vận hành máy, thiết bị của nông dân, nhất là khâu kỹ thuật bảo dưỡng, phụ tùng thay thế...

    Mặc dù trong giai đoạn 2001-2006, vốn đầu tư của Nhà nước có tăng từ 2 đến 2,5 lần so với giai đoạn trước 2000 cho nông thôn, nông nghiệp. Tuy nhiên, đầu tư để phát triển cơ giới hóa nông nghiệp hầu như còn rất thấp. Mặt khác, khả năng thu hút vốn đầu tư của các thành phần kinh tế trong lĩnh vực trang bị máy móc cơ điện nông nghiệp cho nông dân quá khiêm tốn.

    Nền công nghiệp chế tạo máy của Việt Nam còn yếu, nguyên, nhiên vật liệu, những yếu tố "vào" quan trọng hầu như phải nhập khẩu. Máy nông nghiệp, máy chế biến nông-lâm sản với công nghệ cao chế tạo trong nước, cùng với đội ngũ công nhân lành nghề ở ta còn hạn chế, vì vậy ta bị cạnh tranh không cân sức ở mọi nơi, mọi lúc. Công tác nghiên cứu-phát triển tuy được Đảng và Nhà nước chú trọng nhưng thiếu những chính sách và các nhóm giải pháp đồng bộ để đẩy mạnh ngành phát triển nhanh, đáp ứng nhu cầu của sản xuất nông nghiệp, nông thôn đề ra.

    - Điều đó đòi hỏi sự vươn lên của ngành cơ điện nông nghiệp, thưa Giáo sư?

    - Đúng vậy, bản thân ngành cơ điện nông nghiệp phải vươn lên đáp ứng nhu cầu của thị trường theo những chỉ tiêu định hướng mà ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn đề ra là: đảm bảo chế biến công nghiệp một số mặt hàng nông-lâm-thủy sản đạt từ 70 đến 90%, phục vụ nội tiêu và xuất khẩu.

    Do đó, vấn đề đặt ra là nông dân cần những chính sách hợp lý về đầu tư và hỗ trợ nguồn vốn vay ưu đãi để mua sắm trang bị và sử dụng. Nếu không chỉ tiêu đặt ra vẫn là con số mang tính mơ ước.

    - Xin cảm ơn Giáo sư.

    HỒNG MINH thực hiện

    host

    Ý kiến bạn đọc

    0 bình luận
    Đang tải reCAPTCHA...