Chương trình Mục tiêu Quốc gia Giảm nghèo và Chương trình Phát triển Kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào Dân tộc và Miền núi giai đoạn 2006-2010 (gọi tắt là Chương trình giảm nghèo) đã được sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ, đông đảo các tầng lớp nhân dân hưởng ứng.
Chương trình Mục tiêu Quốc gia Giảm nghèo và Chương trình Phát triển Kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào Dân tộc và Miền núi giai đoạn 2006-2010 (gọi tắt là Chương trình giảm nghèo) đã được sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ, đông đảo các tầng lớp nhân dân hưởng ứng.
Còn nhiều khó khăn
Trong hai năm 2006 và 2007, tổng kinh phí từ ngân sách trung ương bố trí thực hiện các dự án của Chương trình giảm nghèo là 344,4 tỷ đồng cùng với nguồn kinh phí của địa phương và huy động trong nước, quốc tế đã tạo nguồn lực mới. Đã có 2,866 triệu hộ nghèo được vay ưu đãi, 1,330 triệu lượt người nghèo được hướng dẫn cách làm ăn. Cấp thẻ Bảo hiểm y tế cho khoảng 29 triệu lượt người nghèo, 4,7 triệu lượt học sinh nghèo được miễn giảm học phí.
Cũng trong hai năm đó, Chương trình phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào Dân tộc và Miền núi được đầu tư 3.483 tỷ đồng từ ngân sách nhà nước cùng với các nguồn huy động khác. Các địa phương đã đầu tư xây dựng 8.413 công trình hạ tầng, tạo ra năng lực mới phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân, góp phần thay đổi bộ mặt nông thôn miền núi.
Nhờ thực hiện đồng bộ các dự án, chính sách của các chương trình, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh hằng năm cả nước giảm bình quân 3 đến 4%, vượt mức kế hoạch đề ra, đến cuối năm 2007 tỷ lệ hộ nghèo cả nước còn 14,87% giảm 6,28% so với cuối năm 2005.
Tuy nhiên, công tác giảm nghèo đang còn nhiều khó khăn, thách thức và những mặt hạn chế về: cơ chế, chính sách; đầu tư cho chương trình; tổ chức thực hiện và giảm nghèo bền vững.
Cơ chế thực hiện trợ giúp y tế còn bất cập nên một bộ phận người nghèo chưa được hưởng hoặc chậm hưởng chính sách. Chính sách hỗ trợ giáo dục thực hiện theo cơ chế miễn giảm học phí cho học sinh nghèo chưa bao phủ tại các trường dân lập. Cơ sở đào tạo chưa “mặn mà” thực hiện chính sách miễn giảm học phí. Vốn tín dụng ưu đãi hộ nghèo và hoạt động khuyến nông-lâm-ngư chưa gắn kết chặt chẽ. Mức cho vay thực tế đối với hộ nghèo các địa phương đang thực hiện quá thấp (từ 4 đến 5 triệu đồng/hộ) không thể phát triển sản xuất bền vững.
Đầu tư cho các công trình không đồng bộ, chất lượng hạn chế, đặc biệt chưa có kinh phí duy tu bảo dưỡng. Cơ chế hỗ trợ đầu tư của chương trình còn dàn trải, cắt đoạn, chưa theo đến cùng cho từng sản phẩm, dự án. Nhiều dự án hỗ trợ hộ phát triển vùng nguyên liệu nhưng không đồng bộ với chế biến và tiêu thụ sản phẩm, làm ra không bán được...
Đồng bộ hóa các giải pháp
Để khắc phục những tồn tại trên các Bộ, ngành, địa phương cùng phối kết hợp thực hiện đồng bộ Chương trình Giảm nghèo, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện các chính sách, giải pháp đạt chỉ tiêu, nhiệm vụ giảm nghèo năm 2008-2010. Nghị quyết kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XII đã đề ra chỉ tiêu phấn đấu đến cuối năm 2008 tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm còn 11-12%. Bởi vậy cần đẩy mạnh các hoạt động truyền thông về giảm nghèo và tuyên truyền pháp luật, nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và người nghèo về công tác giảm nghèo. Đội ngũ cán bộ làm công tác giảm nghèo ở cấp xã, huyện, đặc biệt là các xã nghèo, các xã vùng sâu, vùng xa, vùng có đồng bào dân tộc thiểu số cần được tăng cường và nâng cao năng lực.
Quy hoạch, sắp xếp lại vùng dân cư, hỗ trợ đầu tư nhà ở và các công trình dân sinh, sản xuất; phòng chống, hạn chế tác hại của bão, lũ, đặc biệt là khu vực Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung, nơi hứng chịu nặng nề hậu quả của thiên tai, tạo nền tảng cho giảm nghèo nhanh và bền vững. Cần có cơ chế, chính sách để các tỉnh nghèo có thêm nguồn kinh phí đầu tư thực hiện các dự án giảm nghèo cho 58 huyện tỷ lệ nghèo hơn 50% nhằm tạo chuyển biến rõ nét về đời sống ở các vùng nghèo. Các dự án giảm nghèo ở các huyện phải bảo đảm đầu tư đến cùng cho từng sản phẩm, đạt mục tiêu giảm nghèo.
Đối với vùng núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số cần có chính sách hỗ trợ tín dụng, công nghệ, đào tạo cho doanh nghiệp hoặc một số hộ điển hình làm kinh tế giỏi để giúp đỡ các hộ nghèo phát triển sản xuất, tiêu thụ sản phẩm. Đối với các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo cần tập trung cho những xã có dự án, đủ điều kiện đầu tư làm trước, tập trung vốn đầu tư trong một, hai năm đầu, lấy kinh nghiệm xã này triển khai xã tiếp theo. Đồng thời tránh tình trạng phân bổ vốn dàn trải, chuẩn bị đầu tư không tốt, công trình dở dang, hiệu quả thấp. Chuyển đổi cơ chế miễn, giảm học phí, các khoản đóng góp như hiện nay sang cơ chế nhà nước chi trả trực tiếp cho học sinh thuộc hộ nghèo thông qua hình thức trả tiền trực tiếp cho đối tượng hoặc thanh toán cho cơ sở giáo dục, đào tạo khuyến khích học sinh thuộc diện hộ nghèo vào học tập. Ngoài ra cần tháo gỡ một số vướng mắc trong giải ngân đào tạo cán bộ, hỗ trợ phát triển sản xuất và cơ sở hạ tầng.
Bài và ảnh: PHƯƠNG NGA
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận