Huyện Thiệu Hóa (Thanh Hóa) là nơi có nhiều làng nghề truyền thống phát triển lâu đời và được quan tâm, chú ý. Hiệu quả đã thấy rõ, song vẫn còn không ít lo toan cả về phía người dân lẫn cơ quan quản lý để các làng nghề ngày càng phát triển bền vững...
![]() |
| Làng nghề mộc ở Hà Nam (ảnh Hà Nam) |
Hiệu quả ngày càng khẳng định
Thực tế đã chứng minh, tất cả các nghề tiểu thủ công nghiệp (TTCN) trên địa bàn huyện dù sản xuất chuyên nghiệp hay hoạt động mang tính thời vụ cũng đều đưa lại giá trị ngày công lao động và thu nhập cao hơn hẳn so với sản xuất nông nghiệp. Tổng giá trị sản xuất TTCN toàn huyện từ 50 tỷ đồng năm 2003 lên 56,5 tỷ đồng năm 2005, tăng 36,5% so với năm 2000, bình quân mỗi năm tăng 7%, thu nhập bình quân đầu người đạt 3,9 triệu đồng/người/ năm, tăng tỷ trọng CN-TTCN lên 20%.
Chủ tịch UBND xã Thiệu Dương, ông Nguyễn Vũ Lương cho chúng tôi biết “Là xã có dân số đông, đất canh tác ít bình quân trên 0,6 sào/người, nếu chỉ dựa vào cây lúa và hoa màu thì không thể đủ ăn. Từ năm 1995 nghề đan cót ép khôi phục đã tăng thu nhập cho người dân, bình quân lao động làm nghề cói đạt khoảng 500.000đ/người/tháng, tận dụng lao động nông nhàn và lao động phụ trong dân”. Chỉ tính riêng tổng thu nhập TTCN và DVTM hàng năm đã lên tới 17 tỷ đồng, chiếm tới 70% thu nhập toàn xã. Cả xã giờ đây 100% nhà ở xây kiên cố, giao thông, trường học được cải tạo và xây mới. Nghề đan, cót ép ở Thiệu Dương phát triển còn có sự hỗ trợ của chính quyền địa phương trong việc lưu thông hàng hoá (xã không thu kinh phí cầu đường, mặt bằng sản xuất) tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các tổ hợp sản xuất cót ép trên địa bàn hoạt động.
Xã Thiệu Đô, nơi làng cổ Hồng Đô có nghề ươm tơ, dệt nhiễu nổi tiếng, cả xã 1.600 hộ dân thì có trên 1.350 hộ dân làm nghề trồng dâu, nuôi tằm. Toàn xã có 312ha nông nghiệp thì có đến 62ha dành cho trồng dâu, nuôi tằm. Tổng thu ngân sách của xã đạt 30 tỷ đồng/năm, thì nghề trồng dâu, nuôi tằm đã đạt 10 tỷ đồng, chiếm 1/3 tổng thu toàn xã. Cây dâu là cây mang lại hiệu quả kinh tế cao, nghề ươm tơ, dệt nhiễu là nghề đòi hỏi kỹ thuật cao, kén chọn lao động lành nghề. Trong khi đó cả xã chỉ có trên 200 lao động có kỹ thuật chuyên dệt nhiễu (10 nghệ nhân trong nghề), cho thấy lao động có kỹ thuật còn ít, đã ảnh hưởng rất lớn đến khả năng phát triển nghề. Lượng vốn dùng cho mở nhà xưởng, máy móc, nhập hàng là rất lớn, rồi thì nguồn nguyên liệu phục vụ cho sản xuất vẫn chưa chủ động được… Hình thức tổ chức sản xuất chủ yếu vẫn theo mô hình sản xuất hộ, nhân dân còn thiếu kinh nghiệm về kinh tế thị trường, trình độ quản lý và khả năng tiếp thị còn yếu, các cơ sở sản xuất, các hộ chưa tạo ra được sự liên doanh, liên kết một cách chặt chẽ đồng bộ giữa các khâu: cung ứng vật tư, tổ chức sản xuất gắn với dịch vụ tiêu thụ sản phẩm. Dẫn đến đầu ra không ổn định, giá cả bấp bênh, công nghệ phần lớn đều lạc hậu nên năng suất lao động thấp, giá thành cao, giá trị ngày công lao động thấp…
Để phát triển bền vững
Xuất phát từ thực tế cho thấy, để đẩy mạnh phát triển làng nghề mà bản thân người dân không thể tự khắc phục được. Năm 2004 đến nay, huyện đã tích cực liên kết, đấu mối để nhanh chóng đưa xí nghiệp sản xuất trứng tằm ở Thiệu Nguyên vào hoạt động, ổn định diện tích dâu, nâng cao chất lượng giống dâu, đẩy mạnh hơn nữa việc đưa công nghệ tiên tiến vào sản xuất để đạt hiệu quả cao hơn đối với nghề ươm tơ, dệt nhiễu ở Thiệu Tân, Thiệu Đô, sản xuất cót ép chất lượng cao tại Thiệu Dương để xuất khẩu. Thực hiện có hiệu quả dự án phát triển nghề đúc đồng ở Thiệu Trung theo hướng cải tiến mẫu mã phù hợp với thị hiếu thị trường vừa đạt hiệu quả kinh tế cao. Tổ chức nhiều lớp học nghề tại trung tâm dạy nghề, tại các xã để không ngừng nâng cao chất lượng lao động. Trong đó coi trọng việc bồi dưỡng nâng cao đội ngũ thợ lành nghề nhằm tạo ra “những người thầy dạy thực hành nghề tại chỗ”. Sự hình thành các HTX kiểu mới cũng là hướng đi được khuyến khích, bằng việc tự nguyện gia nhập HTX của nhiều gia đình tập trung được nhiều lao động, vốn để đổi mới công nghệ… Bên cạnh đó, huyện tiếp tục thực hiện có hiệu quả việc chuyển đổi sử dụng đất, nâng diện tích dâu từ dưới 200ha năm 1999 lên 600ha, tạo điều kiện hình thành các vùng nguyên liệu tập trung cung cấp trực tiếp cho các cơ sở sản xuất, chế biến. Ngoài ra huyện còn có các chính sách ưu tiên như: dành đất và ưu tiên vị trí thuận lợi cho các cơ sở sản xuất có nhu cầu, tạo hành lang pháp lý, bảo đảm đủ vốn vay, thực hiện các chính sách ưu đãi về tài chính, thuế… huyện còn hỗ trợ 10 triệu đồng cho một lớp học nghề ở các xã du nhập nghề mới. Đã thực hiện đào tạo, du nhập nghề mới cho 1.300 lao động ở 15 xã đó là: gia công thêu hàng xuất khẩu ở Thiệu Nguyên, Thiệu Lý, sản xuất hàng mây giang xiên ở Thiệu Công, Thiệu Ngọc, Thiệu Toán, thêu móc ở Thiệu Vận, Thiệu Viên, Thiệu Trung... Tạo vốn và đáp ứng đủ vốn vay cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu SXKD ngành nghề TTCN bằng các nguồn tín dụng hiện có như: vốn vay ngân hàng, vốn vay thuộc các quỹ tín dụng, ưu tiên chế độ vay vốn từ quỹ Quốc gia hỗ trợ việc làm… Đồng thời khuyến khích các hộ tích cực đầu tư cải tiến công nghệ, mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế đối với các nghề TTCN trên địa bàn huyện.
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận