QĐND Online - Trên thế giới, đã có 400 tổ máy điện hạt nhân ở nhiều nước đang phát triển. Việt Nam rất cần có nhà máy điện hạt nhân nhưng chúng ta đã chậm và sẽ chậm hơn nếu không gỡ được tư duy “đặt “cái cày” trước “con trâu”...
![]() |
|
Bao giờ Việt Nam có nhà máy điện hạt nhân như thế này?. Ảnh minh họa |
QĐND Online - Trên thế giới, đã có 400 tổ máy điện hạt nhân ở nhiều nước đang phát triển. Việt Nam rất cần có nhà máy điện hạt nhân nhưng chúng ta đã chậm và sẽ chậm hơn nếu không gỡ được tư duy “đặt “cái cày” trước “con trâu”. PGS, TS Vương Hữu Tấn, Viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam và TS Đinh Đức Hữu, Chủ tịch Tập đoàn ATI, chuyên gia về Điện hạt nhân chia sẻ với phóng viên báo Quân đội nhân dân Điện tử về vấn đề này…
PGS, TS Vương Hữu Tấn: 40 năm phải xử lý phóng xạ một lần
PV: Việc xây dựng nhà máy điện hạt nhân có thật sự cần thiết hay có thể lựa chọn giải pháp khác, thưa ông?
PGS, TS Vương Hữu Tấn: Nhu cầu điện của nước ta đang tăng 17%/năm, Việt sẽ nhanh chóng bị thiếu điện. Mức độ huy động tối đa khả năng điện nội địa của nước ta tới năm 2020 có thể đạt 165 tỷ kWh. Trong đó, thuỷ điện chiếm 58 tỷ kWh, nhiệt điện khí 78 tỷ kWh, nhiệt điện than 37 tỷ kWh và năng lượng mới 2 tỷ kWh. Tính ra đến năm 2012 Việt phải nhập khẩu điện. Lượng điện còn thiếu khoảng 36-65 tỷ kWh khó còn một giải pháp nào khả thi hơn việc có nhà máy điện hạt nhân để đáp ứng nhu cầu, đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia bởi các nguồn như thuỷ điện, dầu khí, than đá trong 50 năm tới đều có nguy cơ cạn kiệt. Điện nguyên tử còn có mặt lợi là tránh được hiệu ứng nhà kính do thải CO2, giá thành cũng rẻ nhất so với các loại điện hiện nay, tính ra qua tổng kết khấu hao các nhà máy ở Mỹ và Nhật Bản cho thấy, 1 KWh điện nguyên tử chỉ 1 cent trong khi dùng hơi đốt sẽ mất 6 cent. Tuổi thọ của nhà máy điện nguyên tử cũng rất cao, thường khoảng 60 năm và có thể kéo dài thêm 20 năm nữa trong khi nhà máy thủy điện chỉ 30-40 năm. Nhà máy điện hạt nhân phải chiếm 40% tổng sản lượng điện thì mới yên tâm không bị động vì lệ thuộc vào yếu tố thiên nhiên. Pháp sử dụng 85% nguồn điện từ nhà máy điện hạt nhân, Nhật Bản 45%, Trung Quốc từ nay đến 2020 sẽ xây dựng thêm 40 nhà máy điện hạt nhân nữa. Nhà máy điện hạt nhân đang là xu thế của các nước đang phát triển.
![]() |
| PGS, TS Vương Hữu Tấn |
PV: Tiến sĩ Herrmann Scheer người Đức, một trong những chuyên gia hàng đầu về năng lượng tái tạo trên thế giới, từng cho rằng, điện hạt nhân nói là rẻ, nhưng vẫn “đắt” nếu tính đến việc đầu tư hàng tỉ đôla xây dựng cơ sở?
PGS, TS Vương Hữu Tấn: Đắt chủ yếu vì xây dựng hệ thống bảo đảm an toàn chiếm tới 2/3 chi phí nhưng lại hầu như không bao giờ dùng đến. Tuy nhiên, nhà máy điện nguyên tử khi vận hành chỉ mất 20% chi phí vận hành, bảo dưỡng trong khi các nhà máy khác chi phí khoảng 80%, chưa kể thời buổi sốt đất, nhà máy điện nguyên tử tốn ít đất nhất, chỉ khoảng 4 km2. Xây dựng nhà máy điện hạt nhân so với nhiệt điện giá thành cao hơn khoảng 30%, thuỷ điện 50%. Tuy nhiên chi phí nhiên liệu và vận hành bảo dưỡng nhà máy điện hạt nhân chỉ chiếm 25% trong giá thành sản xuất điện, nhà máy nhiệt điện chiếm tới 75%. Nói dễ hiểu thì nhà máy điện hạt nhân và nhà máy nhiệt điện cùng công suất 1.000 MW khi hết khấu hao, mỗi ngày nhà máy điện hạt nhân cho sinh lãi 1 triệu USD so với nhà máy nhiệt điện.
PV: Dư luận còn lo ngại vấn đề rác nguyên tử, nguy cơ sự cố hạt nhân và nguy cơ chạy đua vũ trang?
PGS, TS Vương Hữu Tấn: Trong lịch sử ra đời các nhà máy điện nguyên tử từ 1954 đến nay, đã có hơn 400 nhà máy điện nguyên tử trên thế giới nhưng mới xảy ra 2 sự cố, tại Three Mile Island của Mỹ và Chéc-nô-bưn (Liên Xô). Sự cố Chéc-nô-bưn do công nghệ còn chưa hoàn thiện, chưa có giải pháp chống phát tán khi lò có sự cố. Còn sự cố xảy ra ở Mỹ tương tự như vụ Chéc-nô-bưn nhưng do có giải pháp nên không gây phát tán, không ảnh hưởng tới môi trường và con người, chỉ làm hỏng lò mà thôi. Tuy nhiên, thiết kế các nhà máy điện hạt nhân tiên tiến trên thế giới đảm bảo xác suất rủi ro 1 triệu lò phản ứng mới có một lò có nguy cơ bị sự cố. Còn về chất thải, nhà máy điện hạt nhân có hai dạng. Dạng thải phóng xạ thấp phát sinh từ các phin lọc của lò phản ứng, từ các dụng cụ thay ra...có thời gian bán rã ngắn chỉ cần bê tông hóa chúng, đóng vào các container nhỏ rồi chôn xuống đất. Sau một thời gian, chúng sẽ trở lại trạng thái an toàn. Một lò 1.000 MW mỗi năm sẽ thải ra khoảng 800 tấn chất thải loại này, cô đặc lại còn khoảng 10 mét khối. Loại thứ hai đáng lo ngại nhất là nhiên liệu đã cháy, mỗi lò 1.000 MW thải ra khoảng 30 tấn/năm với cường độ phóng xạ cao, thời gian phân rã rất lâu. Song, thời gian đến khi cần xử lý phải 40-50 năm. Nên nếu Việt vận hành nhà máy điện hạt nhân vào năm 2020, thì phải đến năm 2070, chúng ta mới cần tính đến việc này. Khi đó, chắc chắn công nghệ xử lý của thế giới đã đi rất xa. Trên thực tế chất thải của các dạng phát điện khác còn đáng sợ hơn nhiều, chúng phát tán thẳng vào môi trường, còn chất thải hạt nhân có số lượng nhỏ, lại quản lý được. Chẳng hạn, một nhà máy nhiệt điện chạy than cũng có công suất 1.000 MW, một năm thải ra 320.000 tấn tro bụi, trong đó có 400 tấn kim loại nặng, hít vào người rất nguy hại. Xỉ than của nhà máy cũng có lượng phóng xạ cao hơn nhiều so với phóng xạ mà những người sống xung quanh nhà máy điện hạt nhân tiếp xúc. Song người dân không biết, và cũng không phản đối nhà máy đó, trong khi lại tỏ ra rất e dè với nhà máy điện hạt nhân.
Đúng là việc phát triển một lò phản ứng hạt nhân rất dễ có thể có điều kiện để làm bom… nguyên tử. Một lò 1000 MW mỗi năm có thể tạo ra được hơn 30 quả bom tương đương loại đã ném xuống Hi-rô-si-ma nhưng hiện nay luật pháp quốc tế rất chặt chẽ, Việt đã tham gia các công ước quốc tế và cam kết chịu sự thanh sát của Cơ quan năng lượng quốc tế (IAEA).
TS Đinh Đức Hữu: Chậm và “vướng” cơ chế
PV: Đến nay nước ta mới tính đến việc xây dựng nhà máy điện nguyên tử là sớm hay muộn, thưa ông?
![]() |
| TS Đinh Đức Hữu |
TS Đinh Đức Hữu: Tôi cho rằng như thế là đã muộn vì công nghệ này không có gì mới mẻ, nhiều nước đang phát triển như ta đã làm hiệu quả. Đài Loan (Trung Quốc) chỉ là một ốc đảo nhỏ nhưng đã có 8 nhà máy điện nguyên tử, Hàn Quốc có hơn 20 nhà máy, trên thế giới đã có 400 tổ máy điện hạt nhân đã được vận hành ở 31 quốc gia và vùng lãnh thổ. Nước ta do nhiều điều kiện giờ đã muộn rồi, không nên trì hoãn lâu hơn. Thực ra Chính phủ đã có sự chỉ đạo khá sớm với chỉ thị về phát triển năng lượng nguyên tử từ năm 1996. Mười năm sau, năm 2006, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt "Chiến lược ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hoà bình đến năm 2020" và theo chiến lược này năm 2020 mới có nhà máy điện nguyên tử như vậy là quá lâu so với thông lệ chuẩn bị của các nước trên thế giới.
PV: Ông là một chuyên gia điện nguyên tử ở Mỹ, theo ông, khó khăn nhất với Việt khi làm nhà máy điện nguyên tử là gì?
TS Đinh Đức Hữu: Kinh nghiệm ở Mỹ ban đầu khi làm nhà máy có rất nhiều cơ quan tham gia nhưng không ai chịu trách nhiệm chính nên có lúc đã rơi vào tình trạng “cha chung không ai khóc”. Về sau, Chính phủ Mỹ giao cho Cơ quan nguyên tử 5 chịu trách nhiệm chính nên tiến độ tốt hơn. Ở Việt hiện nay, tôi thấy cũng đang rơi vào tình trạng tương tự. Viện Năng lượng nguyên tử hiện nay vai trò còn mờ nhạt, chưa được quan tâm xứng tầm để có thể tham gia xây dựng nhà máy điện hạt nhân. Hằng năm Viện này mới được đầu tư khoảng 70 tỷ đồng, trong đó vài tỷ cho nghiên cứu về hạt nhân nói chung, chưa nói nghiên cứu về điện nguyên tử còn ít hơn, nếu đáp ứng được yêu cầu nghiên cứu phải đầu tư cỡ vài trăm tỷ đồng.
Điều quan trọng nhất để thúc đẩy việc sớm có nhà máy điện hạt nhân là ở Việt Nam phải có một cơ quan quản lý chuyên trách và xứng tầm, mang tầm quốc gia để chủ trì, chỉ đạo mọi việc và mang tính độc lập, tránh vừa đá bóng vừa thổi còi. Phải tách biệt các cơ quan quản lý về phát triển và quản lý an toàn, cơ quan hỗ trợ kỹ thuật khác cơ quan nghiên cứu triển khai, cơ quan tư vấn cho Chính phủ trong lựa chọn công nghệ, nhà thầu, cơ quan lo chuyện đào tạo nhân lực…
PV: Có nhiều tập đoàn trên thế giới quan tâm và muốn tham gia vào các dự án điện nguyên tử ở Việt , theo ông nên chọn công nghệ của nước nào?
TS Đinh Đức Hữu: Lựa chọn công nghệ nào theo tôi là vấn đề rất quan trọng, giữ vai trò tiên quyết hiện nay. Vừa qua, Bộ Khoa học – Công nghệ lại “đòi” phải có dự án khả thi rồi mới lựa chọn công nghệ. Nếu thế thì đây quả là “đặt cái cày trước con trâu”. Đành rằng theo Luật Đầu tư thì với các nhà máy như xi măng, giấy… có thể quy định như vậy chứ điện nguyên tử hoàn toàn khác, phải lựa chọn công nghệ nào thì mới có dự án khả thi được. Cũng giống như khi vợ tôi đi chợ, định mua gà hay mua cá thì tôi mới đề ra phương án tiền nong thế nào chứ?
Hiện nay trên thế giới có 2 loại công nghệ chính là lò áp lực và lò nước sôi. Chính phủ đã chủ trương chọn công nghệ tiên tiến nhất (gọi là 3+). Lựa chọn công nghệ nào do Chính phủ trình Quốc hội quyết định nhưng theo tôi nghĩ lựa chọn công nghệ tiên tiến nhất, an toàn nhất là phù hợp. Lựa chọn công nghệ nào phải xác định trước khi có dự án khả thi, bởi công nghệ nó chi phối xuyên suốt. Nếu không, ta lựa chọn công nghệ A, nhưng nhân lực gửi đi học ở nhiều nước lại là công nghệ B, C thì khi về cũng không sử dụng được. Cho nên, vấn đề đầu tiên vẫn là phải có một cơ quan chịu trách nhiệm chính, một Ban chỉ đạo của quốc gia, cần thiết phải có tư vấn quốc tế.
|
PGS, TS Vương Hữu Tấn: Tốt nghiệp ĐH Bách khoa Hà Nội và công tác tại Lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt từ năm 1979. Từng làm luận án tiến sĩ về điện hạt nhân tại Đại học Tổng hợp quốc gia Ki-ép (Liên Xô cũ). Là Viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử Việt . |
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận