Thứ Sáu, 15/12/2006, 21:54

    Đổi mới công tác quản lý vay và trả nợ nước ngoài

    Có thể nói những thành tựu tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo rất ấn tượng mà Việt Nam đạt được trong thời gian qua là kết quả nỗ lực của Chính phủ và nhân dân Việt Nam nhưng không thể tách rời sự hỗ trợ đắc lực từ cộng đồng quốc tế, trong đó có những khoản vay từ nước ngoài...

    Có thể nói những thành tựu tăng trưởng kinh tếvà giảm nghèo rất ấn tượng mà Việt Nam đạt được trong thời gian qua là kết quả nỗ lực của Chính phủ và nhân dân Việt Nam nhưng không thể tách rời sự hỗ trợ đắc lực từ cộng đồng quốc tế, trong đó có những khoản vay từ nước ngoài. Thế nhưng, tiền vay của chúng ta được sử dụng như thế nào? Kế hoạch trả nợ của chúng ta ra sao? Đó là những câu hỏi thường xuyên được bạn đọc gửi đến Báo Quân đội nhân dân.

    Vay nước ngoài để đầu tư phát triển

    Các khoản vay nước ngoài của chúng ta phần lớn từ nguồn vốn hỗ trợ phát triển (ODA); Chính phủ bảo lãnh cho các doanh nghiệp và tổ chức tín dụng vay nước ngoài; các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân trong nước vay các đối tác nước ngoài theo thỏa thuận, không có sự bảo lãnh của Chính phủ.

    Theo báo cáo ngày 20-11-2006 của Bộ Tài chính, trong giai đoạn 1993-2005, tổng số vốn ODA mà các nhà tài trợ đã cam kết cho nước ta thông qua 13 Hội nghị CG đạt 32,53 tỷ USD, trong đó có khoảng từ 15 đến 20 % là viện trợ không hoàn lại. Tính đến cuối năm 2005, Chính phủ Việt Nam đã đàm phán và ký kết các Hiệp định vay hơn 22 tỷ USD, Tổng số vốn đã giải ngân là 11 tỷ USD, phần lớn các Hiệp định đã ký vay có lãi suất ưu đãi, thời hạn cho vay dài. (Khoảng 90 % số hiệp định vay có lãi suất dưới 3 %/năm và thời hạn hơn 12 năm).

    Bộ Kế họach và Đầu tư cho biết: Ước đến 31-12-2006, tổng giá trị các Hiệp định ODA được ký kết trong năm 2006 sẽ đạt 3,06 tỉ USD, tăng 20% so với mức 2005 và là mức cao nhất kể từ khi Việt Nam nhận viện trợ ODA (năm 1993) đến nay. Theo dự kiến của Bộ Tài chính thì cam kết vốn ODA trong năm 2007 sẽ vào khoảng hơn 3,74 tỷ USD.

    Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh tại Hội nghị Tài chính toàn quốc triển khai kế hoạch năm 2007 cho biết : Số vốn vay ODA được sử dụng cho các lĩnh vực như sau: Giao thông vận tải (khoảng 26,5 %), ngành điện (khoảng 23,4 %), phát triển nông nghiệp, nông thôn (khoảng 16,3 %), cấp thoát nước và bảo vệ môi trường (khoảng 9 %), y tế và xã hội (khoảng 5,8 %), giáo dục-đào tạo, khoa học-công nghệ (khoảng 8 %)...

    Cũng theo Bộ Tài chính, để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế-xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trong thời gian qua, Chính phủ đã sử dụng một phần vốn ODA vay nước ngoài để cho vay lại đối với các chương trình, dự án đầu tư có khả năng hoàn vốn của các Bộ, ngành và địa phương (tỷ lệ vay lại chiếm khoảng 45 % tổng số vay ODA của Chính phủ). Bên cạnh đó Chính phủ cũng đã quan tâm khai thác các nguồn vay thương mại nước ngoài để đầu tư phát triển hệ thống các doanh nghiệp trong nền kinh tế thông qua việc Chính phủ vay nước ngoài trực tiếp về cho vay lại.

    Năm 2005, Bộ Tài chính đã tổ chức phát hành thành công Trái phiếu Chính phủ lần đầu tiên ra thị trường vốn quốc tế với trị giá 750 triệu USD, thời hạn 10 năm, lãi suất 7,125 %/năm để cho vay lại đối với Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy Việt Nam. Tính đến ngày 31-12-2005, tổng số vốn vay nước ngoài của các doanh nghiệp được Chính phủ bảo lãnh là 2,9 tỷ USD, trong đó số vốn đã giải ngân là 1,72 tỷ USD.

    Làm thế nào để sử dụng có hiệu quả vốn vay của nước ngoài?

    Vấn đề này đã từng làm nóng diễn đàn Quốc hội và nhiều phiên họp thường kỳ của Chính phủ. Trong phiên thảo luận về tình hình kinh tế xã hội tại kỳ họp Quốc hội mới đây nhiều đại biểu Quốc hội đã bày tỏ lo ngại trước thông tin tổng dư nợ quốc gia có khả năng vượt ngưỡng an toàn. Tuy nhiên, theo nhận định của Bộ Tài chính thì tiền nợ nước ngoài của chúng ta vẫn nằm trong ngưỡng an toàn.

    Tại Hội nghị ngành tài chính toàn quốc vừa được tổ chức tại Hà Nội, vấn đề quản lý vay và trả nợ nước ngoài cũng đã được đem ra thảo luận khá sôi nổi. Có đại biểu đã thẳng thắn nhìn nhận: Công tác chuẩn bị các chương trình, dự án để đăng ký sử dụng vốn vay nước ngoài còn sơ sài, nhiều trường hợp công tác chuẩn bị dự án chưa được kỹ và không tính toán đầy đủ các yếu tố chi phí hoặc quy mô, công suất thiết kế nên khi thực hiện lại phải điều chỉnh đi, điều chỉnh lại nhiều lần dẫn đến kéo dài thời gian thực hiện dự án, giảm thời gian ân hạn, ảnh hưởng tới hiệu quả đầu tư. Hiện nay, tỷ lệ nợ quá hạn đối với các dự án cho vay lại ở mức thấp, song cũng đã xuất hiện một số dự án gặp khó khăn trong việc thu hồi vốn để trả nợ nước ngoài, đặc biệt là trong các ngành chè, mía đường, dâu tằm tơ, cơ khí...

    Một số dự án sử dụng vốn vay nước ngoài cũng đã phát hiện thất thoát, lãng phí, điển hình là các dự án do PMU 18 làm chủ đầu tư.

    Nhiều đại biểu kiến nghị: Cần phải quản lý thận trọng việc vay thương mại nước ngoài. Không vay thương mại nước ngoài ngắn hạn cho mục tiêu dài hạn. Chỉ nên vay nước ngoài cho mục tiêu phát triển, không sử dụng các khoản vay nước ngoài cho tiêu dùng; đảm bảo cân đối giữa vay và khả năng trả nợ, cân đối ngoại tệ và các cân đối vĩ mô khác của nền kinh tế.

    Trong đề án đổi mới công tác quản lý vay và trả nợ nước ngoài, Bộ Tài chính đề nghị : “Chính phủ thống nhất quản lý toàn diện nợ khu vực công và nợ nước ngoài của quốc gia, từ việc huy động, tiếp nhận, phân bổ sử dụng, quản lý giám sát bằng các công cụ về chiến lược dài hạn, chương trình quản lý nợ trung hạn và kế hoạch vay, trả nợ hàng năm được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; các chính sách, chế độ phù hợp và phân công trách nhiệm quản lý rõ ràng theo các quy chế được Chính phủ ban hành. Hiệu quả của chương trình, dự án sử dụng vốn vay là tiêu chí hàng đầu trong việc quyết định vay vốn nước ngoài hoặc huy động trong nước cho mục tiêu đầu tư phát triển”.

    Tại Hội nghị nhóm các nhà tài trợ cho Việt Nam 2006 được tổ chức từ ngày 14 đến ngày 15-12, tại Hà Nội, đại diện Chính phủ ta đã khẳng định sẽ đổi mới cách quản lý vốn ODA trong năm 2007, đồng thời sẽ từ chối các khoản vay ODA nếu xét thấy không hiệu quả.

    Năm 2007 sẽ dành 10.400 tỷ đồng trả nợ nước ngoài

    Tại kỳ họp vừa qua, Quốc hội đã biểu quyết thông qua nghị quyết về phân bổ ngân sách Trung ương năm 2007. Theo đó, năm tới, Chính phủ sẽ dành 49.160 tỷ đồng trả nợ và viện trợ. Trong đó, 37.990 tỷ đồng trả nợ trong nước, 10.400 tỷ đồng trả nợ nước ngoài và dành 770 tỷ đồng viện trợ.

    Nhằm tăng cường công tác quản lý vay và trả nợ nước ngoải, Chính phủ đã ban hành Nghị định 131 về quản lý sử dụng ODA. So với trước đây, việc sử dụng ODA trong Nghị định 131 đã minh bạch hơn, rõ ràng hơn, phân cấp triệt để hơn, hài hoà và đồng bộ hơn trong các thủ tục quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA. Theo Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Võ Hồng Phúc thì Nghị định 131 sẽ tạo bước đột phá quan trọng trong việc tăng cường giải ngân và nâng cao chất lượng thực hiện các chương trình, dự án ODA.

    Nghị định mới đã tăng cường vai trò của Bộ Kế hoạch và Đầu tư ở khâu giúp Thủ tướng Chính phủ quản lý danh mục dự án và kiểm tra giám sát. Điều này đồng nghĩa với việc trong thời gian tới, Bộ Kế hoạch Đầu tư sẽ triển khai chủ trương phân cấp thẩm quyền phê duyệt vốn ODA, nhằm tạo ra động lực "thi đua" giữa các địa phương, nâng cao năng lực cán bộ và trách nhiệm của các bộ ngành, địa phương trong việc sử dụng có hiệu quả ODA.

    Thủ tướng Chính phủ cũng vừa ký Quyết định số 231/2006/QĐ-TTg ban hành Quy chế “Xây dựng và quản lý hệ thống chỉ tiêu đánh giá, giám sát tình trạng nợ nước ngoài của quốc gia”. Trong đó quy định rõ các căn cứ mức độ nợ của quốc gia, tình trạng nợ của khu vực công và phù hợp với thông lệ quốc tế, các ngưỡng an toàn đối với các chỉ tiêu nợ nước ngoài trong từng thời kỳ, đảm bảo bền vững nợ nước ngoài của quốc gia...Theo quy định của Quy chế này, hàng năm Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tổng hợp và xây dựng trình Thủ tướng Chính phủ thông qua Tổng hạn mức vay thương mại nước ngoài của quốc gia như một bộ phận của kế hoạch hàng năm về vay và trả nợ nước ngoài.

    Dự kiến sắp tới, Chính phủ sẽ đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua Pháp lệnh về quản lý nợ của khu vực công, bao gồm vay và trả nợ trong nước và nước ngoài của Chính phủ, vay và trả nợ của chính quyền các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, vay và trả nợ nước ngoài của các doanh nghiệp công ích. Bộ Tài chính cũng đang xây dựng chương trình trung hạn vay và trả nợ nước ngoài và kế hoạch trả nợ hàng năm.

    Với các giải pháp nêu trên và tốc độ tăng trưởng kinh tế như hiện nay, chúng ta có đủ cơ sở để tin rằng, sắp tới, việc quản lý vay và trả nợ nước ngoài của chúng ta sẽ chặt chẽ hơn, việc sử dụng vốn vay nước ngoài sẽ hiệu quả hơn.

    Bài và ảnh: ĐỖ PHÚ THỌ

    host

    Ý kiến bạn đọc

    0 bình luận
    Đang tải reCAPTCHA...