Tổng số tiền người dân xã vay ngân hàng là 12 tỷ đồng. Cứ cho lãi suất là 1% thì mỗi tháng 120 triệu đồng của người dân xã phải “đội nón” ra đi. Số tiền ấy mà được tích lũy thì sẽ xây dựng được biết bao nhiêu công trình có ích”.
* UBND huyện Lục Ngạn đang rà soát các hộ đói nghèo, kiên quyết không để dân đứt bữa kéo dài
Trước thông tin nhiều hộ gia đình ở huyện Lục Ngạn (Bắc Giang), vùng đất trồng vải nổi tiếng, đang “đói ăn, đứt bữa” phóng viên báo Quân đội nhân dân đã tới tận nơi tìm hiểu tình hình. Những gian khó của nhiều người dân nơi đây đã hiện ra trước mắt chúng tôi...
Cả xã đi “ăn mượn”
Xã Kiên Lao có khoảng 6.300 người, trong đó 86,4% là đồng bào dân tộc thiểu số (Sán Chí, Nùng, Tày, Sán Rìu, Hoa, Thái). Nhiều gia đình thường xuyên phải vay tiền, vay thóc để đảm bảo cuộc sống. Vay hàng xóm không được thì vay tiền ngân hàng, vay thóc của các đại lý tư nhân. Giá thóc đáng 4.200đ/kg thì họ phải vay với cái giá là 5.200đ/kg, khi thu hoạch vụ mùa thì phải trả.
Ông Hoàng Văn Tiến, bí thư chi bộ (chi bộ ghép thôn Hà và thôn Khuôn Thần) cho biết: “Tình trạng đứt bữa là khá phổ biến đối với cả hai thôn. Ở thôn Hà, 25% số hộ đói ăn thật sự, còn số hộ phải đi vay nợ trong thôn lên đến 80%. Cả thôn có 104 hộ thì 21 hộ đứt bữa, 57 hộ thuộc diện đi vay về ăn. Ở Khuôn Thần thì tình hình còn tệ hại hơn, dân ở đây chưa có điện sinh hoạt, đường vào làng vẫn còn lầy lội, mỗi lần mưa bão là bị “cắt đứt” với bên ngoài, nhà cửa đa phần mái lá, tường đất; có 86 hộ thì 57 hộ đói, 27 hộ đặc biệt khó khăn. Năm nào Khuôn Thần cũng có hộ phải chạy ăn từng bữa khi giáp hạt nhưng năm nay thì tỷ lệ này còn nhiều gấp bội”.
![]() |
| Bà Hoàng Thị Hằng, thôn Khuôn Thần mua mì tôm cho gia đình |
Ông Nguyễn Đình Vân, chủ tịch UBND xã Kiên Lao cho biết, tỷ lệ đói nghèo trong toàn xã chiếm 75,7%, trong đó “đứt bữa” thật sự chiếm 20%. “Năm nay hạn nặng, lúa mất, vải mất, các thứ cây ăn quả khác trong vườn đồi thì rẻ như bèo, người dân lâm cảnh khốn khó.
Tổng số tiền người dân xã vay ngân hàng là 12 tỷ đồng. Cứ cho lãi suất là 1% thì mỗi tháng 120 triệu đồng của người dân xã phải “đội nón” ra đi. Số tiền ấy mà được tích lũy thì sẽ xây dựng được biết bao nhiêu công trình có ích”.
Chuyện đói của một gia đình
Chúng tôi tới thăm gia đình anh Hoàng Văn Xuân (nằm ở thôn Hà, xã Kiên Lao, huyện Lục Ngạn). Vợ anh, chị Lương Thị Nhỏi vừa mất được 2 hôm. Đưa chị ra nơi an nghỉ cuối cùng ở cánh đồng gần nhà, anh Xuân thấy quãng đời trước mắt đầy chông gai. 13 năm, chung sống đời vợ chồng, chị đau yếu liên miên do căn bệnh suy tim. Anh chị có với nhau được 4 đứa con, trong đó 2 đứa bị tật nguyền (một đứa câm điếc bẩm sinh, một đứa bị thiểu năng do lúc mang thai chị dùng quá nhiều kháng sinh). Chưa hết, em gái anh cũng bị bệnh về não, có lớn mà chẳng có khôn, thỉnh thoảng lại lên cơn khi trái gió trở trời.
Hoàn cảnh như vậy nên gia đình anh Xuân thuộc diện đặc biệt nghèo của xã. Căn nhà tạm bợ, trống tuềnh, trống toàng, chẳng có gì có thể được coi là “của nả”. Đáng giá nhất trong nhà anh, có lẽ chỉ là hai chiếc xe đạp và một thùng tôn đựng thóc. Trong thùng tôn ấy là 7 tạ thóc, nguồn sống duy nhất của gia đình anh từ nay cho tới tận tháng 11, khi thu hoạch vụ mùa. Ngôi nhà của anh, vách được đắp từ hỗn hợp trộn vôi và đất. Kèo cột, cửa ra vào, cửa sổ bị mối xông mạnh lở loét, nứt toác từng mảng. “Ngôi nhà này chẳng biết sập lúc nào. Những hôm mưa gió, không ai dám ở trong nhà, phải chạy xuống trú tại gian bếp tuy nhỏ xíu, nhưng được xây dựng vững chắc hơn”.
Chị mất đi, chỉ còn lại anh xoay sở cho 8 miệng ăn: anh, bà mẹ anh năm nay đã 60 tuổi, hai đứa em, cùng 4 đứa con. Nhà anh có hơn trăm cây vải, khoảng 60 cây hồng, một mẫu ruộng. Ngoài ra trong chuồng nhà anh còn có vài con gà, con thỏ. Năm khá, thu hoạch cũng đủ ăn. Thế nhưng năm nay mất mùa vải, mất trắng, không thu được gì. Còn hồng thu hoạch cũng kém năm trước (được khoảng 2-3 tấn), giá lại sụt thê thảm chỉ còn 1.000đ/kg, như thế sẽ thu được 2-3 triệu. “Trong lúc, chỉ riêng tiền phân, tiền thuốc trừ sâu đã khoảng 2,5 triệu”. Một mẫu ruộng lúa nhà anh chỉ cho thu hoạch giỏi lắm là 1 tấn thóc, đó là chưa kể từ nay tới lúc thu hoạch còn bao bất chắc, nên “chỉ để nuôi mấy miệng ăn trong gia đình còn không nổi, nói gì đến lãi”.
Được Dự án Việt- Thái (cách gọi của người dân trong vùng về một dự án của Chính phủ Việt Nam và Thái Lan) cho 40 con thỏ giống, anh hăm hở nuôi, với ước mong đổi đời. Nhưng vì không được trang bị kỹ thuật đến nơi đến chốn nên 40 con nay đã “teo” lại chỉ còn 5 con thỏ gầy ốm, thoi thóp.
Mất mùa, đói kém, 7 tạ thóc đang có trong chiếc thùng tôn là nhờ anh chạy vạy anh em, bà con trong thôn, trong xã mà có. Đầu tháng 8 vừa rồi, anh “vay nóng” ngân hàng được 10 triệu đồng đầu tư cho sản xuất. Thế nhưng, được mấy hôm thì chị mất, bao nhiêu khoản phải lo... “Cũng may còn có anh em đùm bọc, nếu không thì chưa biết ra sao”…
Ông Thân Văn Khánh, Phó chủ tịch UBND huyện Lục Ngạn cho hay: “Kiên Lao quả là khó khăn nhưng cũng chưa khó nhất huyện. Còn nhiều xã vùng sâu, vùng xa như Xà Lý, Cấm Sơn, Phong Vân… còn khó khăn gấp bội”. Tính trong toàn huyện, vẫn còn 45,2% số hộ nghèo và huyện đang phấn đấu để giảm tỷ lệ đó xuống còn 40,9% vào cuối năm nay. Hơn nữa, một huyện có 200 nghìn dân như Lục Ngạn mà diện tích trồng lúa chỉ có 5,5 nghìn héc-ta nên “an ninh lương thực” bao giờ cũng là vấn đề phải lo nghĩ. Tuy nhiên, nhìn vào bức tranh chung của toàn huyện thì không phải chỗ nào cũng ảm đạm vì người dân các xã vùng thấp như Chũ, Phượng Sơn, Nghĩa Hồ, Thanh Hải, Giáp Sơn, Tân Quang… lại được mùa và “trúng quả đậm” vì năm nay vải thiều được giá, nhờ vậy thu nhập từ vải của Lục Ngạn đạt 400 tỷ đồng, gấp đôi năm ngoái. Thành thử nơi giàu vẫn giàu, nơi nghèo còn nghèo hơn.
Điều nguy hiểm là không ít hộ dân còn khó khăn nhưng vẫn vay tiền ngân hàng về mua sắm xe máy, trả nợ các khoản đã tiêu dùng, số hộ vay về đầu tư cho phát triển sản xuất không nhiều. “Việc tích lũy của người dân là rất kém”.
Nguyên nhân và những giải pháp
Vì sao người dân xã Kiên Lao và nhiều địa phương nữa ở Lục Ngạn lại rơi vào tình trạng đói ăn lúc giáp hạt đến vậy. Nguyên nhân khách quan là do điều kiện thiên nhiên khá khắc nghiệt, mưa ít, nước thiếu, đất đai canh tác thiếu, lại phân tán nhỏ lẻ. Nhưng một nguyên nhân chủ quan được nhắc tới là người dân nơi đây, “nuôi con gì, trồng cây gì” cũng đều trông chờ vào “ân huệ” mưa gió của Trời. Năm nay hạn hán lớn, dân thiếu cả nước sinh hoạt và nước sản xuất nên tình trạng đói kém trở nên trầm trọng nhất trong vòng 10 năm qua.
Cây vải, loại cây cho thu nhập chủ lực của cả hai thôn thì gặp phải sương muối đúng mùa ra hoa nên năng suất chỉ bằng 20% năm ngoái. Riêng cây lúa, mặc dù diện tích gieo trồng đạt 1,7 sào/người nhưng chỉ trồng được một vụ và vẫn theo tập quán canh tác cũ (trồng khô) nên khi gieo xuống nếu gặp mưa mới đâm chồi, nảy hạt, năm nay hạn nặng nên phần lớn thóc giống đã “biếu không” cho đất. Tính ra, những ruộng lúa cho thu hoạch cũng chỉ đạt năng suất 1 tạ/sào, hạch toán kỹ thì cũng chỉ đủ vốn, không có đồng công nào. Sắn thì chưa đến vụ thu hoạch, ngô thiếu nước nên bắp lép kẹp, chẳng hy vọng gì. Nếu đầu tư xây dựng trạm bơm để hút nước từ hồ Khuôn Thần lên thì sẽ cải thiện đáng kể tình hình sản xuất (theo ông Tiến), nhưng năm 2004, khi có ý kiến đề xuất xây trạm bơm thì xã chưa có điện. Đến nay, đường dây điện đến xã rồi thì diện tích đất để xây trạm, dân đã chiếm hết để làm vườn trồng vải, UBND xã chưa giải tỏa được. Kết quả là người dân sống bên hồ nước rộng mênh mông mà vẫn không có nước tưới.
Bên cạnh đó, ngoài cái “đói” về thóc gạo, vật chất, người dân Kiên Lao còn có cái đói về kỹ thuật sản xuất. Trình độ canh tác của người dân Kiên Lao và các xã vùng cao Lục Ngạn nói chung ở trình độ rất thấp. Năng suất, chất lượng cây trồng kém.
Ở Khuôn Thần cũng có gia đình học tập cách làm ăn mới, tích cực chăn nuôi để chuyển dịch cơ cấu kinh tế hộ như gia đình anh Trường, anh Thưởng… Các gia đình này nuôi thêm hàng chục con lợn thịt, mua chịu đại lý tiền cám, tiền thuốc đến lúc bán thì trả. Nhưng năm nay giá lợn rẻ, Khuôn Thần lại gặp khó khăn về giao thông nên có lúc muốn bán lợn lại phải tự chở ra chợ. Giá cám tăng, giá lợn thịt giảm, nhà anh Trường ngồi hạch toán bị lỗ 2 triệu đồng mỗi lứa, cả làng định học tập anh cũng đâm nản về chuyện chăn nuôi. Thành thử, bài toán đói nghèo ở Kiên Lao, như thừa nhận của ông chủ tịch xã là “càng giải càng thấy khó”.
Về giải pháp trước mắt, ông Thân Văn Khánh, Phó chủ tịch huyện cho biết, huyện sẽ rà soát các hộ đói trong vùng, kiên quyết không để tình trạng đứt bữa kéo dài. UBND tỉnh Bắc Giang cũng đã chuyển về huyện 150 triệu đồng hỗ trợ đồng bào kỳ giáp hạt. Huyện đã trích quỹ hỗ trợ người nghèo 60 triệu và phát động phong trào quyên góp “lá lành đùm lá rách”, giúp đỡ bà con nghèo, hiện đã thu được hơn 40 triệu đồng.
Về lâu dài, huyện chủ trương sẽ phát triển kinh tế rừng (chuyển phần lớn rừng phòng hộ sang rừng kinh tế, giao cho dân); phát triển chăn nuôi; phát triển đa dạng, nâng cao chất lượng cây ăn quả để tăng giá trị sản xuất hàng hoá trên toàn huyện. Đối với xã Kiên Lao, tỉnh và huyện đã có kế hoạch đầu tư xây dựng khu du lịch hồ Khuôn Thần. Dự kiến, năm 2007 sẽ xây dựng đường giao thông, đường điện, cấp nước…
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận