Tính đến thời điểm hiện nay mô hình xây dựng khu kinh tế đầu tiên ở Việt Nam đã tròn 5 năm, với thời gian ấy Khu kinh tế mở Chu Lai đã thu hút và huy động được một lượng vốn đầu tư nhất định từ các nguồn vốn trong và ngoài nước, có tổng cộng 48 dự án đầu tư với tổng số vốn đăng ký trên 1,6 tỷ USD...
Khu kinh tế mở Chu Lai - khu kinh tế mở đầu tiên của Việt Nam được Chính phủ thành lập tại Quyết định số 108/2003/QĐ-TTg ngày 5-6-2003 trên địa bàn tỉnh Quảng Nam nhằm thử nghiệm các thể chế, chính sách mới, tạo môi trường đầu tư hấp dẫn, phù hợp với các thông lệ quốc tế, qua đó có thêm kinh nghiệm cho hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực.
5 năm đầu tư và phát triển
Tính đến thời điểm hiện nay mô hình xây dựng khu kinh tế đầu tiên ở Việt Nam đã tròn 5 năm, với thời gian ấy Khu kinh tế mở Chu Lai đã thu hút và huy động được một lượng vốn đầu tư nhất định từ các nguồn vốn trong và ngoài nước, có tổng cộng 48 dự án đầu tư với tổng số vốn đăng ký trên 1,6 tỷ USD. Có 41 dự án đã được cấp phép đầu tư với tổng số vốn đăng ký 640 triệu USD, trong đó có 24 dự án đang hoạt động với tổng vốn đầu tư 240 triệu. Doanh thu hằng năm của các dự án đang hoạt động đạt khoảng 2.866 tỷ đồng, kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 11,76 triệu USD, giải quyết việc làm cho gần 6.000 lao động. Bên cạnh những mặt đạt được, Khu kinh tế mở Chu Lai còn bộc lộ nhiều khó khăn, vướng mắc cần tháo gỡ, số dự án đăng ký thì nhiều nhưng trên thực tế triển khai thì ít; công tác bồi thường-giải phóng mặt bằng (BT-GPMB) còn nhiều vấn đề nan giải, tình trạng cơi nới, xây dựng nhà trái phép, tách hộ liên tục xảy ra; công tác phối hợp với các Sở, ban ngành, địa phương và Ban quản lý chưa được thông suốt, còn chồng chéo nên làm việc gì cũng lấn cấn. Ban quản lý chỉ quản lý Nhà nước về mặt đầu tư đối với các khu chức năng, còn quản lý kinh tế - xã hội trên địa bàn thì do UBND huyện Núi Thành và thành phố Tam Kỳ nên làm việc gì cũng khó, nhất là công tác phối hợp, ai cũng giành quyền ảnh hưởng của mình nên đôi lúc mạnh ai nấy làm; cơ sở hạ tầng thì quá nhiều vấn đề cần phải cải thiện như sân bay, bến cảng, giao thông đi lại... Trong khi đó, yêu cầu đầu tư lại quá cao, nhất là các dự án du lịch, đầu tư vào đây ít nhất là 5 sao, thời gian hoàn thành dự án phải nhanh...
![]() |
|
Cảng Kỳ Hà 2 trong Khu kinh tế mở Chu Lai. |
Mô hình phát triển khu kinh tế như thế nào?
Hiện nay, phân cấp thực hiện quản lý Nhà nước đối với các khu kinh tế được thực hiện tại Nghị định số 29/2008/NĐ - CP ngày . Theo đó, Ban quản lý các Khu kinh tế chỉ quản lý Nhà nước về các hoạt động đầu tư đối với các khu chức năng, còn quản lý các vấn đề an sinh, phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn là do UBND các huyện, thị. Nhưng vấn đề an sinh xã hội, công tác BT-GPMB, tái định cư, quản lý đất đai, quản lý hiện trạng lại được thực hiện ở tất cả các khâu do Ban quản lý thực hiện. Như vậy, cùng một vấn đề mà có hai cơ quan Nhà nước quản lý. Thực tế thời gian qua đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, khó khăn trong quá trình tổ chức thực hiện, nhất là trong phân cấp quản lý, công tác phối, kết hợp. Bộ máy chính quyền địa phương mất đi quyền tự chủ trong xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, công tác cải cách thủ tục hành chính... vì cái gì cũng phải xin ý kiến chỉ đạo của Ban quản lý, kể cả quy hoạch, chấp thuận chủ trương đầu tư... Nên chăng, lãnh đạo Ban quản lý khu kinh tế vừa là người quản lý Nhà nước về đầu tư đối với các khu chức năng, vừa quản lý các hoạt động kinh tế-xã hội trên địa bàn, có như vậy thì mới điều hành các hoạt động trên địa bàn khu kinh tế trôi chảy được.
Phát triển kinh tế phải đi đôi với quy luật vận động của nó, giống như phát triển thêm một sản phẩm mới. Để đánh giá một sản phẩm tốt hay xấu, thị trường có chấp nhận hay không, chu kỳ sống bao lâu... thì phải qua quá trình phân tích và đánh giá rút kinh nghiệm. Ấy vậy mà từ khi Khu kinh tế mở Chu Lai ra đời mới hơn có một năm thì đã có hàng loạt các khu kinh tế ven biển khác ra đời, mà chưa biết nó “sống chết” ra sao, có tương thích với thị trường và được các nhà đầu tư chấp nhận hay không. Những cuộc khởi công xây dựng rầm rộ trong thời gian qua ở các khu kinh tế có khả thi hay không, hay là khởi công rồi để đó. Hơn nữa, cơ chế chính sách cho các khu kinh tế này đều giống như “đúc” nhau cả, ngoài các khu kinh tế có cửa khẩu như: Lao Bảo (tỉnh Quảng Trị), Bờ Y (tỉnh Kon Tum), Mộc Bài (tỉnh Tây Ninh)... có khác đôi chút. Vì vậy, đã là thí điểm, nhân rộng mô hình thì phải có sự đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm, rồi mới cho ra đời các sản phẩm tiếp theo.
Theo quy định của Luật Đầu tư mới (năm 2005), chính sách cho các khu kinh tế được hưởng ưu đãi như địa bàn có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn. Vì thế, cơ chế, chính sách cho các khu kinh tế, nhất là các khu kinh tế ven biển nhất thiết phải giống nhau và chỉ cần thể chế bằng một văn bản pháp quy là được. Chấm dứt tình trạng mỗi khu kinh tế có một quyết định riêng, nảy sinh nhiều bất cập và tiêu cực trong việc “chạy” cơ chế riêng.
Trong tư duy phát triển các khu kinh tế không thể mang những điểm ưu đãi cao nhất từ các Luật đã ban hành để làm cơ chế chính sách, mà phải được thể chế bằng sự ưu đãi vượt trội cao hơn, không ảnh hưởng đến các cam kết của Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế thế giới và gia nhập WTO. Nếu so với các khu kinh tế khác trên thế giới, nhất là khu thương mại tự do thì cơ chế chính sách của ta quá bó hẹp, mà nếu có mở đi chăng nữa thì kèm theo đó là các điều kiện hết sức ngặt nghèo.
Nhìn nhận và suy ngẫm lại chính mình là điều cần thiết, phải thẳng thắn “soi gương”, không phải bi quan mà để tránh chủ quan. Cần phải đánh giá đúng thực lực và khả năng nội tại trong mối quan hệ chung của khu vực và thế giới nhằm đưa ra các giải pháp phù hợp, tránh thổi phồng quá đáng hoặc lạc quan đến mức phi khoa học để rồi kết cục đọng lại nhiều hoài nghi cho các nhà đầu tư và những người trong cuộc.
Bài và ảnh: Thạc sĩ Nguyễn Văn Diêu
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận