QĐND Online – Có thể bắt gặp hàng hoá Trung Quốc ở bất kỳ đâu trên đất Việt, từ thành thị đến những vùng nông thôn hẻo lánh. Trong khi đó, hàng Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc lại “nhỏ giọt”, nay thông mai tắc, tiềm ẩn nhiều rủi ro...
QĐND Online – Có thể bắt gặp hàng hoá Trung Quốc ở bất kỳ đâu trên đất Việt, từ thành thị đến những vùng nông thôn hẻo lánh. Trong khi đó, hàng Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc lại “nhỏ giọt”, nay thông mai tắc, tiềm ẩn nhiều rủi ro. Nguyên nhân chính được chỉ ra là do chúng ta chưa có một nhạc trưởng chỉ huy, cũng như chưa có một chiến lược tổng thể cho việc “làm ăn” với nước bạn láng giềng nhiều tiềm năng này…
Hạ tầng “vừa thiếu, vừa yếu”
![]() |
|
Ô tô chở hàng nông sản xếp hàng chờ qua cửa khẩu Tân Thanh, Lạng Sơn.
|
Cơ sở hạ tầng phục vụ xuất khẩu của tỉnh Lạng Sơn được coi là tốt nhất trong các tỉnh biên giới giáp với Trung Quốc, song theo ông Nguyễn Văn Thanh- Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lạng Sơn thì cơ sở vật chất chưa đáp ứng yêu cầu thực tế hoạt động thương mại. Ông Lý Hải Hầu- Phó Chủ tịch UBND tỉnh Cao Bằng cho biết: hệ thống cơ sở hạ tầng nội địa của Trung Quốc để phục vụ xuất khẩu hàng hoá sang Việt rất tốt. Nếu phải chuyển cửa khẩu thì doanh nghiệp Trung Quốc chỉ mất 15 phút là đến cửa khẩu khác, còn ở Việt Nam các doanh nghiệp phải đi theo hình chữ “V” để đến được cửa khẩu khác. Hơn nữa, hàng hóa chủ yếu mà Việt xuất khẩu sang Trung Quốc là rau quả, thuỷ sản thì hiện Việt chưa hề có kho bãi đông lạnh. Hậu quả là có khi hàng trăm xe chở hàng phải để giữa nắng, giữa mưa nhiều ngày chờ thông quan, chi phí trội lên và chất lượng sản phẩm bị ảnh hưởng. Ông Lý Hải Hầu cho biết thêm, Cao Bằng có 7 cửa khẩu, mỗi năm được đầu tư 20 tỷ đồng (khoảng 3 tỷ đồng/cửa khẩu) nên việc trang bị cơ sở vật chất rất dang dở và thiếu thốn. “Vì sự đầu tư dang dở nên Cao Bằng vẫn còn tình trạng barie truyền thống là cây tre”- ông Lý Hải Hầu cho biết.
Ngay cả những tỉnh có cửa khẩu quốc tế và lượng hàng hoá xuất nhập khẩu lớn như Lào Cai nhưng cơ sở vật chất vẫn ở tình trạng “rất báo động”. Ông Nguyễn Văn Vịnh- Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lào Cai cho biết: “Tuyến quốc lộ 70 mặc dù đã được nâng cấp nhưng mới rộng 5,5 mét và đáp ứng được 50% nhu cầu vận chuyển. Thời gian qua đã có lúc vì một trận bão mà tuyến đường này bị tắc hoàn toàn và không có tuyến tránh. Tuyến đường sắt duy nhất vận chuyển lượng hàng hoá rất lớn Hà Nội- Lào Cai từ 100 năm nay hầu như vẫn giữ nguyên, hiện chỉ phục vụ được 1/3 nhu cầu vận chuyển hàng hóa và hành khách”.
Theo Phó chủ tịch UBND tỉnh Lai Châu Trần Xuân Phu: “Vì hệ thống giao thông còn yếu kém nên chi phí vận chuyển ở Lai Châu gấp 3 lần ở các tỉnh đồng bằng. Xe phải vượt hàng chục, hàng trăm khúc cua mới đến được cửa khẩu. Các huyện tiếp giáp với Trung Quốc lại là những huyện rất khó khăn, cơ sở hạ tầng yếu kém khiến chi phí xuất khẩu hàng hoá bị đẩy lên rất cao…”.
Chính sách không theo kịp nhu cầu
![]() |
|
Cửa khẩu quốc tế Lào Cai.
|
Trung Quốc là thị trường lớn, tiêu chuẩn về hàng hoá không quá khắt khe nhưng trong nhiều năm qua, kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt vào Trung Quốc tăng không đáng kể trong khi mức nhập siêu của Việt lại không ngừng tăng. Theo ông Đào Trần Nhân- Vụ trưởng Vụ Thị trường châu Á- Thái Bình Dương (Bộ Công Thương) thì: các doanh nghiệp Việt Nam chưa tận dụng được tối đa ưu thế của thị trường Trung Quốc là địa lý gần và cơ hội mà các Hiệp định thương mại (ACFTA) mang lại như sử dụng Form E khi xuất khẩu. Do đó, một số mặt hàng như trái cây nhiệt đới mà Việt vốn có ưu thế thì nay đã khó cạnh tranh, còn trái cây của các thị trường Thái Lan, Đài Loan (Trung Quốc) lại tăng cường xuất khẩu vào thị trường Trung Quốc.
Bộ Công Thương cũng cho rằng, công tác xúc tiến thương mại của nước ta vào Trung Quốc còn kém hiệu quả. Cho đến nay, Việt Nam chưa có một chương trình quảng bá, quảng cáo mang tính hệ thống và liên tục cho hàng hoá xuất khẩu vào thị trường Trung Quốc, nhất là thị trường phía Tây Nam như Vân Nam, Quảng Tây, Quý Châu và Tứ Xuyên.
Trong khi đó, theo ông Nguyễn Văn Thanh thì Trung Quốc lại có chính sách thương mại rất rõ ràng và mạnh mẽ để đẩy hàng hoá ra nước ngoài. Đặc biệt những tỉnh có quan hệ thương mại trực tiếp với nước ta thì chính sách rất đặc thù, sự vận dụng linh động để xuất được hàng hoá qua biên giới. Thông qua việc giảm thuế, Trung Quốc trao quyền cho các địa phương vùng biên được đặc quyền quyết định các ưu đãi về biên mậu. Doanh nghiệp Trung Quốc ở các địa phương, nhất là cấp xã, được khuyến khích phát triển sản xuất và bán ra bên ngoài bằng hình thức ưu đãi thuế, doanh nghiệp càng ở cấp dưới thì thuế càng rẻ, có khi bằng 0%.
Theo Vụ Thị trường châu Á-Thái Bình Dương (Bộ Công Thương): phía Trung Quốc thường xuyên áp dụng các chính sách linh hoạt để điều chỉnh lượng hàng xuất khẩu cũng như giá cả xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường Trung Quốc (Điều này không vi phạm quy định của WTO vì các chính sách chỉ áp dụng cho hàng hoá của Việt Nam xuất khẩu qua biên mậu mà không áp dụng cho qua đường chính ngạch). Đơn cử như chỉ cho phép một số mặt hàng nhất định được xuất khẩu qua một số cửa khẩu nhất định. Hay việc mức phí biên mậu thay đổi theo từng thời điểm, mùa vụ nhằm điều chỉnh giá mua vào. Việc giám sát kiểm tra vệ sinh an toàn hàng hoá xuất khẩu của Việt một cách chặt chẽ hoặc buông lỏng cũng nhằm điều chỉnh lượng hàng nhập khẩu từ Việt . Những biện pháp linh hoạt này được thực hiện khi Trung Quốc muốn mua hàng vào (khi cần hoặc khi giá thấp) hoặc hạn chế những mặt hàng là thế mạnh của Việt Nam có khả năng cạnh tranh mạnh tại Trung Quốc, đồng thời có khả năng điều chỉnh giá bán của hàng xuất khẩu từ Việt Nam.
Theo các chuyên gia kinh tế, trước những chính sách linh hoạt của thị trường đối tác, hơn bao giờ hết, doanh nghiệp cần nhạy bén trong kinh doanh, nâng cao tính chủ động tìm hiểu thông tin và hiểu thật chính xác những quy định mới. Ở đây, Hiệp hội có vai trò rất quan trọng, bởi Hiệp hội vừa là đầu mối thông tin vừa là người điều phối để các doanh nghiệp không mạnh ai lấy làm. Bộ Công Thương nhận định, chính sách và quy định của Trung Quốc đối với buôn bán biên mậu và các văn bản về kiểm dịch, vệ sinh an toàn thực phẩm những năm tới đây sẽ vẫn là trở ngại cho chúng ta nếu như các doanh nghiệp Việt Nam chưa kịp nắm vững và đáp ứng nhu cầu này.
Khơi dòng
Theo Vụ Thị trường châu Á- Thái Bình Dương, Việt cần hoàn thiện hành lang pháp lý, sửa đổi, bổ sung các hiệp định như: Hiệp định vận tải đường bộ Việt- Trung, Hiệp định vận chuyển hàng hoá… Nhà nước cần tiếp tục đầu tư phát triển có trọng điểm đối với các khu kinh tế cửa khẩu- đầu mối của các hành lang kinh tế liên vùng. Cần có sự hỗ trợ hơn nữa cho công tác xúc tiến thương mại vào thị trường Trung Quốc.
Để việc đầu tư cho các cửa khẩu được trọng tâm và chất lượng, ông Nguyễn Văn Vịnh- Phó Chủ tịch tỉnh Lào Cai cho rằng: Chính phủ cần có quy hoạch hệ thống cửa khẩu trên cả nước, đâu là cửa khẩu quốc tế, cửa khẩu quốc gia để từ đó có sự đầu tư đúng mức. Điều đó cũng tránh việc mỗi tỉnh đều muốn nâng cấp cửa khẩu lên một cấp trong khi phía nước bạn không muốn. Đồng thời tránh việc các tỉnh đều có một kiến nghị riêng sang cùng một tỉnh của nước bạn (tỉnh Vân của Trung Quốc). Tương tự, đối với việc xúc tiến thương mại, hiện các tỉnh biên giới của Việt Nam đang làm riêng lẻ, nên Bộ Công Thương cần là cơ quan đầu mối phối hợp những hoạt động này.
Để giúp doanh nghiệp có được nhiều thông tin và sự hỗ trợ khi cần thiết, các địa phương có đường biên giới với tỉnh Quảng Tây và Vân Nam của Trung Quốc trong khuôn khổ hợp tác địa phương có thể xây dựng cơ chế phối hợp cung cấp thông tin cho nhau để tuyên truyền cho doanh nghiệp hai bên cùng biết về những quy định mới, những thay đổi trong chính sách thương mại nói chung và chính sách biên mậu nói riêng.
Bài và ảnh: Duy Anh
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận