Thứ Ba, 16/01/2007, 21:17

    Kiểm soát chặt chẽ vệ sinh, an toàn thực phẩm

    10 cơn bão đổ bộ vào biển Đông, trong đó có những “siêu bão” gây thiệt hại nặng nề cho ngư dân, việc kiểm tra an toàn vệ sinh, cùng các trở ngại khác từ các thị trường xuất khẩu truyền thống…, đã đặt ra nhiều thử thách đối với ngành thuỷ sản...

    10 cơn bão đổ bộ vào biển Đông, trong đó có những “siêu bão” gây thiệt hại nặng nề cho ngư dân, việc kiểm tra an toàn vệ sinh, cùng các trở ngại khác từ các thị trường xuất khẩu truyền thống…, đã đặt ra nhiều thử thách đối với ngành thuỷ sản. Tuy nhiên, cùng với nỗ lực vượt khó, năm qua cũng là năm thắng lợi trong lĩnh vực xuất khẩu của ngành. Ngày 16-1, ngành đã tổ chức tổng kếtvà đề ra phương hướng nhiệm vụ năm 2007. Phó thủ tướng thường trực Nguyễn Sinh Hùng dã đến dự và phát biểu.

    Xuất khẩu vượt 500 triệu USD so với kế hoạch

    Mặc dù, thị trường xuất khẩu thuỷ sản gặp nhiều khó khăn và thách thức, năm 2006 xuất khẩu thuỷ sản vẫn đạt hơn 3,3 tỷ USD, vượt hơn nửa tỷ USD so với kế hoạch. Các doanh nghiệp đẩy mạnh chế biến xuất khẩu nên giá trị xuất khẩu tăng mạnh. Cơ cấu thị trường của thuỷ sản Việt chuyển dịch theo hướng tích cực. Do khó khăn từ một số thị trường truyền thống, các doanh nghiệp thuỷ sản đã chủ động chuyển hướng phát triển sang các thị trường mới. Hiện nay, Nhật Bản là thị trường lớn hàng đầu với tỷ trọng 25,3%, tiếp đó là EU (21,6%), Hoa Kỳ (19,9%)…

    Trong số các sản phẩm xuất khẩu của thuỷ sản Việt Nam thì tôm vẫn là chủ lực, chiếm 44,3% về giá trị, tiếp đến là cá đông lạnh 33,8%. Xuất khẩu cá tra, cá ba sa có mức tăng trưởng nhanh, với sản lượng ước đạt 250.000 tấn, giá trị đạt 750 triệu USD. Trong đó, nét mới là hai sản phẩm này được tiêu thụ mạnh ở EU và Đông Âu. Theo dự báo, trong thời gian tới, cá tra và cá ba sa của Việt sẽ tiếp tục có chỗ đứng trên hai thị trường này.

    No image available

    Đến năm 2010, ngành thủy sản Việt Nam đặt mục tiêu xuất khẩu vượt 4,5 tỷ USD (ảnh Vnn)

    Những tháng đầu năm tình trạng thiếu nguyên liệu diễn ra tương đối trầm trọng, nhiều nhà máy chỉ hoạt động 60% công suất. Nhưng việc sản xuất không bị đình trệ bởi các doanh nghiệp đã chủ động nhập thêm nguyên liệu để duy trì và phát triển sản xuất. Cuối quý 2, khi vào mùa thu hoạch tôm, cá nuôi, tình trạng ứ thừa nguyên liệu như các năm trước đã được cải thiện.

    Thách thức từ chất lượng, an toàn, vệ sinh thực phẩm

    Cuối năm 2006, những thông tin từ thị trường Nhật Bản đối với hàng thuỷ sản Việt Nam khiến chúng ta lo lắng. Nước Nhật đã đề ra những tiêu chuẩn ngặt nghèo hơn trong vấn đề vệ sinh thực phẩm thuỷ sản khiến sản phẩm từ nhiều nước trong đó có Việt Nam gặp khó khăn. Theo nhiều chuyên gia, cho dù Bộ Thuỷ sản đã ban hành những quy định mới về chất lượng an toàn vệ sinh thuỷ sản xuất khẩu, nhưng do nhiều lô hàng đã được sản xuất và xuất đi từ trước đó nên sản phẩm của một số doanh nghiệp Việt Nam đã bị phía bạn “thổi còi”.

    Không chỉ Nhật Bản, các nước như Nga, Ô-xtrây-li-a cũng áp dụng quy định kiểm soát chặt chẽ hơn đối với thuỷ sản Việt Nam. Đây là lúc ngành thuỷ sản cần đề ra các biện pháp hữu hiệu để cải thiện chất lượng, an toàn vệ sinh sản phẩm thuỷ sản theo yêu cầu của nước nhập khẩu, cũng như đối với sản phẩm tiêu thụ nội địa.

    Để cải thiện tình hình, năm 2007, ngành thuỷ sản sẽ rà soát và xây dựng mới các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực an toàn vệ sinh và thú y. Trong đó, tập trung ban hành các tiêu chuẩn (tương đương tiêu chuẩn của quốc tế), quy chuẩn kỹ thuật cho từng ngành hàng, từng sản phẩm, trước hết là các sản phẩm có sản lượng tiêu thụ lớn. Các hình phạt, chế tài đối với các cơ sở sản xuất không thực hiện quy chuẩn kỹ thuật, buôn bán, lưu thông, sử dụng trái phép các chất bị cấm, sản phẩm không đủ tiêu chuẩn sẽ được bổ sung để tăng tính răn đe.

    Cùng với đó, ngành sẽ củng cố và kiện toàn hệ thống các cơ quan quản lý chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm thuỷ sản từ Trung ương đến địa phương. Từ nay đến 2010, ngành tổ chức đào tạo, nâng cao nghiệp vụ cho các cán bộ về chất lượng an toàn vệ sinh thuỷ sản và đề nghị các địa phương bố trí ngân sách mua sắm trang, thiết bị phục vụ việc kiểm soát chất lượng trên địa bàn từng tỉnh.

    Thức ăn, thuốc, hoá chất cho nuôi trồng thuỷ sản ngày càng nhiều chủng loại, nhiều hình thức cung ứng. Đây là khó khăn lớn đối với việc quản lý. Ngành sẽ thực hiện kiểm soát điều kiện an toàn vệ sinh thực phẩm tại các cơ sở sản xuất thực phẩm thuỷ sản, bao gồm các cơ sở sản xuất giống, thức ăn, tới các tàu cá, cảng cá, chợ cá, cơ sở sơ chế… Chỉ những đơn vị được công nhận đủ điều kiện mới được sản xuất, kinh doanh thực phẩm thuỷ sản. Chương trình kiểm soát dư lượng các chất độc hại trong thuỷ sản và sản phẩm thuỷ sản nuôi sẽ được tiếp tục thực hiện.

    Một nét mới mà Bộ Thuỷ sản quyết tâm thực hiện trong thời gian tới là thiết lập hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm để quy trách nhiệm cho chủ thể từng khâu trong chuỗi sản xuất thực phẩm thuỷ sản.

    Đẩy mạnh áp dụng tiến bộ khoa học

    Phát biểu tại hội nghị, Phó thủ tướng thường trực Nguyễn Sinh Hùng đánh giá ngành thuỷ sản là ngành có sản phẩm xuất khẩu mũi nhọn của đất nước, thu hút đông nhân lực. Theo thống kê mới đây, có hơn 4 triệu người đang hoạt động trong lĩnh vực thuỷ sản. Thế nhưng, công tác nghiên cứu và ứng dụng khoa học trong ngành hiện chưa đáp ứng được yêu cầu, chủ yếu vẫn phải dựa vào kinh nghiệm của người dân.

    Cần phải nhận thấy rằng vấn đề khoa học, công nghệ càng trở nên quan trọng khi hàng thuỷ sản Việt Nam đang cố gắng vươn mạnh ra thị trường quốc tế. Nếu công nghệ nuôi tốt, tạo ra các sản phẩm sạch thì thuỷ sản Việt Nam sẽ tự tin hơn trước những yêu cầu an toàn vệ sinh thực phẩm của các nước nhập khẩu.

    Năm 2006, ngành đã cố gắng triển khai nhiều đề tài, dự án nghiên cứu chuyển giao khoa học công nghệ. Kết quả hoạt động khoa học, công nghệ đã và đang được ứng dụng vào sản xuất thông qua hoạt động khuyến ngư như: công nghệ khai thác cá ngừ đại dương, cải tiến kỹ thuật, ngư cụ khai thác hải sản, công nghệ sản xuất giống tôm thẻ chân trắng, nhuyễn thể, cá măng… đã góp phần tăng năng suất, hiệu quả sản xuất. Hiện công tác quản lý môi trường và phòng ngừa dịch bệnh đã có chuyển biến ở các vùng nuôi. Các Trung tâm môi trường đã thực hiện khảo sát, phân tích, dự báo môi trường ở các vùng nuôi trọng điểm, giúp ngư dân và người nuôi chọn thời điểm thả giống tốt, kịp thời xử lý môi trường nước, hạn chế dịch bệnh phát sinh. Hệ thống khuyến ngư từ Trung ương đến địa phương đã tổ chức 4.100 lớp tập huấn, phát sóng 341 buổi trên truyền hình, đăng tải 127.781 bài báo cùng nhiều băng hình, đĩa CD giới thiệu công nghệ nuôi các loại thuỷ sản có giá trị kinh tế cao, các kỹ thuật nuôi...

    Để thực hiện chiến lược phát triển, hiện đại hoá, ngành thuỷ sản tiếp tục khuyến khích các mô hình sản xuất trên biển theo tổ hợp tác, hợp tác xã, theo đoàn, đội, sử dụng hợp lý, tiết kiệm nhiên liệu gắn với hậu cần dịch vụ, đưa tiến bộ khoa học vào sản xuất, đặc biệt là công nghệ bảo quản sau thu hoạch. Với việc vươn ra biển xa, nhằm tránh rủi ro, việc cải tiến công tác quản lý và điều hành, hiện đại hoá để nắm vững thông tin từ các tàu cá trên biển sẽ được đẩy mạnh trong năm 2007.

    Bộ Thuỷ sản cũng sẽ xây dựng chính sách hỗ trợ các hoạt động sản xuất thuỷ sản trên biển, hỗ trợ khắc phục hậu quả thiên tai cho ngư dân. Hi vọng bằng những quyết sách đúng đắn trong năm 2007, thuỷ sản Việt Nam sẽ đạt được mục tiêu xuất khẩu 3,6 tỷ USD, là bước đệm để đến năm 2010, vượt mục tiêu xuất khẩu 4,5 tỷ USD.

    Quỳnh Dương

    host

    Ý kiến bạn đọc

    0 bình luận
    Đang tải reCAPTCHA...