QĐND - Đin Ra-xcơ không muốn viết hồi ký, nhưng do có sự động viên, gợi ý của con trai là Ri-sác Ra-xcơ (Richard Rusk), nên cuốn hồi ký của Đin Ra-xcơ đã hoàn thành năm 1990. Dưới tựa đề “Như tôi đã thấy” Đin Ra-xcơ kể, con trai là Ri-sác Ra-xcơ ghi. Sau đây là một đoạn trích nói về chiến tranh Việt Nam...
QĐND - Đin Ra-xcơ (Dean Rusk), cựu ngoại trưởng Mỹ thời chính quyền Ken-nơ-đi (Kennedy, 1961-1963) và Giôn-xơn (Johnson, 1963-1968), một trong số những kiến trúc sư chủ yếu của cuộc chiến tranh mà Mỹ gây ra ở Việt Nam, bên cạnh Mắc Na-ma-ra (McNamara), Bộ trưởng Quốc phòng, Mắc Gioóc-giơ Băn-đi (McGeorge Bundy), cố vấn an ninh quốc gia… và hàng loạt phụ tá nổi tiếng khác của hai triều đại Ken-nơ-đi và Giôn-xơn. Nhà báo Mỹ Đa-vít Hon-bơ-xtam (David Halberstam) đã lịch lãm và sâu sắc mỉa mai tặng cho họ cụm từ đặc biệt “những nhân vật tài giỏi nhất, thông minh nhất” (The Best and the Brightest) trong một cuộc chiến tranh đã dẫn nước Mỹ đến một thảm họa lịch sử.
Đin Ra-xcơ không muốn viết hồi ký, nhưng do có sự động viên, gợi ý của con trai là Ri-sác Ra-xcơ (Richard Rusk), nên cuốn hồi ký của Đin Ra-xcơ đã hoàn thành năm 1990. Dưới tựa đề “Như tôi đã thấy” Đin Ra-xcơ kể, con trai là Ri-sác Ra-xcơ ghi. Sau đây là một đoạn trích nói về chiến tranh Việt Nam. Xin giới thiệu với bạn đọc.
Kỳ 1:Tan vỡ niềm tin
Cha tôi là một người rất trung thực khi nói đến vai trò của ông trong những quyết định về cuộc chiến tranh Việt Nam. Ông nhận hoàn toàn trách nhiệm của mình đối với những quyết định đó. Ông thẳng thắn, dám nói ra sai lầm của mình trong các vấn đề sách lược, và lặng lẽ mang trong mình nỗi buồn về một cuộc chiến kết thúc quá tệ hại. Tuy nhiên, vào những năm 80 của thế kỷ trước, khi đã về già, những ý kiến riêng tư của ông hầu như khác với những ý kiến chính thức khi còn tại chức Bộ trưởng Ngoại giao trong thập niên 1960.
![]() |
|
Bộ trưởng Quốc phòng Mắc Na-ma-ra (bên phải) ngồi cạnh Tổng thống Giôn-xơn (giữa) và Ngoại trưởng Đin Ra-xcơ trong cuộc họp nội các tháng 2-1968. Ảnh: WHPO. |
Đã có những điểm không khớp nhau không thể tránh khỏi giữa những ý kiến của cha tôi về các vấn đề chính sách được ghi vào biên bản của Nhà Trắng trong những năm sáu mươi khi đối chiếu với ký ức mà ông hồi tưởng lại hai mươi năm sau. Năm 1968, một năm chấn động lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ kể từ cuộc nội chiến Nam – Bắc Mỹ, là một “đòn choáng váng” (a blur to him) đối với cha tôi. “Cha mệt mỏi đến tận xương tủy” (bone – tired), ông nói. Và ngày qua ngày, ông phải nhờ đến “aspirin, rượu whisky và bốn gói thuốc lá Larks” để vượt qua nỗi nhức nhối đó. Ông thú nhận: “Cha không thể nhớ được nhiều những việc đã xảy ra trong năm ấy”, và bản ghi chép của chúng tôi khi hỏi chuyện ông cũng phản ánh những chỗ thiếu hụt đó. Tôi đã cố công tái dựng năm 1968 thay ông với hy vọng có thể kích thích trí nhớ của ông. Nhiều năm sau khi nhắc lại cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân của Việt Cộng vào tháng Hai năm 1968 xảy ra khắp miền Nam Việt Nam làm tan vỡ niềm tin của nước Mỹ, Ra-xcơ nói: “Tôi biết vào thời điểm đó nhiều người Mỹ đã mất hết tin tưởng vào nỗ lực chiến tranh của chúng ta và nếu như lúc ấy chúng ta đã không thể nói được lúc nào chiến tranh kết thúc thì có lẽ chúng ta nên bỏ cuộc đi thôi”. Giá như lúc đó, sau cuộc tấn công Tết, Đin Ra-xcơ đã sẵn sàng bỏ cuộc và trong những tháng cuối cùng của chính quyền Giôn-xơn đã có thể tìm được giải pháp qua thương lượng của hai bên tại Pa-ri! Nhưng thực tế đã diễn ra theo một chiều hướng khác. Ông nói với tôi: “Có thể ông đã có một phần nào ảnh hưởng đến quyết định của Tổng thống Giôn-xơn nêu ra trong bài diễn văn của tổng thống vào ngày 31 tháng 3 năm 1968, tuyên bố một cuộc ngừng ném bom miền Bắc Việt Nam, chỉ gửi thêm 18.000 quân chứ không phải 206.000 quân theo yêu cầu của Oét-xmo-len (Westmoreland), nhắc lại sự quan tâm đến vấn đề thương lượng… Nhưng xét cho cùng “cũng chỉ có tổng thống mới là người có vai trò quyết định trong các chủ trương đó”. Nhưng rồi, trước sự thất vọng của Averell Harriman, Cyrus Vance (những người thuộc phái bồ câu trong chính quyền Johnson – ND) và các thành viên trong đoàn đàm phán Mỹ tại Hội nghị Pa-ri, đã chẳng có chuyện “bỏ cuộc” đối với các mục tiêu cơ bản của Mỹ: Đưa chính quyền Sài Gòn vào cuộc đàm phán Pa-ri, đòi Bắc Việt Nam rút quân. Thế là, trong tình hình Hà Nội đang rất không muốn Ních-xơn (Nixon) thắng trong cuộc tổng tuyển cử (tháng 11-1968) nên tỏ ra sẵn sàng đàm phán và có thể đã có cơ hội chấm dứt thương vong của Mỹ và tiến hành thương lượng để Mỹ có thể rút quân theo những điều khoản không tệ hại như các điều khoản trong cuộc thương lượng năm 1973, và đã có thể chấm dứt chiến tranh vào năm 1968. Nhưng mọi cơ hội đã bị bỏ mất.
Ẩn dưới niềm tin tưởng trong những ý kiến phát biểu chính thức những ngày ông đang tại chức, cha tôi đã trải qua một nỗi đau dằn vặt khi phải đắn đo cân nhắc trước việc quyết định đưa quân chiến đấu Mỹ vào miền Nam Việt Nam năm 1965. Bản thân Đin Ra-xcơ không tự nói ra thành lời “nỗi đau dằn vặt” ấy, nhưng có những người khác đã nói ra điều đó. Tác giả Oa-ren Cô-hơn (Warren Cohen) trong cuốn tiểu sử “Dean Rusk” đã nói rõ nỗi lo lắng của Ra-xcơ về việc nước Mỹ đã sai lầm khi đặt niềm tin vào một “con ngựa tồi” (chính quyền Sài Gòn – ND), ông chống lại việc đưa bộ binh Mỹ vào Nam Việt Nam, chống lại chủ trương ném bom Bắc Việt Nam và Mỹ hóa cuộc chiến tranh… Sau này, có lúc ông nói về những chuyện này: “Cohen đã mô tả cha quá lời thành một người khôn ngoan hiểu biết”. “Những điều nghi ngại của cha hồi ấy đều được ghi lại (trong văn bản tư liệu của chính quyền) là “nghi ngại” chứ đâu phải “phản đối chính sách của tổng thống”. Anh trai tôi là Đa-vít Ra-xcơ (David Rusk) nói, có lần cha tôi nói là hồi ấy ông đã phản đối việc ném bom Bắc Việt Nam, ông nói ném bom chỉ làm tăng thêm quyết tâm chiến đấu của họ và làm cho họ tập hợp được sự hậu thuẫn của nhân dân. Ông từng nói với Đa-vít ông đã để trọn cả cuộc đời tại chức để giải quyết những bất đồng giữa hiệu quả mong muốn và việc sử dụng sức mạnh của không lực”.
Quang Doãn
(giới thiệu và biên dịch)
Kỳ 2: Không thể đánh bại một dân tộc như thế!
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận