Thứ Sáu, 08/06/2007, 20:40

    Nghề phụ-thu nhập chính

    Nghề thủ công Việt Nam có truyền thống từ lâu đời, gắn liền với làng nghề, phố nghề là những sản phẩm tinh xảo. Tên của sản phẩm kèm theo tên của làng nghề làm ra nó. Sản phẩm nổi tiếng làm cho các làng nghề làm ra sản phẩm cũng nổi tiếng. Làng Sai Nga (huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ) được biết đến với nghề làm nón lá...

    Nghề thủ công Việt Nam có truyền thống từ lâu đời, gắn liền với làng nghề, phố nghề là những sản phẩm tinh xảo. Tên của sản phẩm kèm theo tên của làng nghề làm ra nó. Sản phẩm nổi tiếng làm cho các làng nghề làm ra sản phẩm cũng nổi tiếng. Làng Sai Nga (huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ) được biết đến với nghề làm nón lá. Tuy là một nghề thủ công “phụ” nhưng đem lại thu nhập “chính” cho các hộ dân nơi đây.

    Ruộng không “bề bề” nên cần “cái nghề”...

    Sai Nga là xã miền núi của tỉnh Phú Thọ, cuộc sống của người dân chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp. Song do diện tích đất canh tác theo đầu người thấp (mỗi nhân khẩu chỉ có 10 thước ruộng), lại thường xuyên bị ngập úng, mỗi năm một vụ nên mùa lúa đến không là niềm “mong chờ” với bà con nông dân. Từ thực tế đó, cần một nghề phụ trong lúc “nông nhàn” kiếm thêm thu nhập góp phần hỗ trợ kinh tế, giải quyết khó khăn cho cuộc sống người dân là cần thiết.

    Người dân Sai Nga chọn nghề làm nón từ nhiều năm nay. Xuất xứ của nghề theo các hộ dân trong làng kể lại, những người ở Hà Tây lên dạy và truyền nghề, mới đầu là được học nghề từ xã Sơn Nga. Hơn 10 năm về trước, nghề nón ở Sai Nga thực sự phát triển, khắp làng trắng màu nón lá, nhà nhà, người người làm nón. Anh Nguyễn Văn Đại (ở xóm 8) cho biết: “Bố mẹ truyền nghề từ khi 10 tuổi. Ở làng có những cháu 6 đến 7 tuổi đã biết làm rồi. Lúc thạo nghề bố mẹ đi vắng, ở nhà tự quay lấy làm và may. Con trai hay con gái làm được hết. Có những cụ già 80 tuổi mắt còn tinh vẫn ngồi may nón. Công việc nhẹ nhàng, đơn giản, không hại sức lao động, không chịu nắng mưa, có thể tranh thủ làm buổi tối”.

    No image available
    Chị Xuyên đang xếp lá để quay nón

    Cùng với áo dài, phụ nữ Việt Nam có chiếc nón duyên dáng. Chiếc nón là kết quả sàng lọc qua thực tế che mưa che nắng. Làm một chiếc nón phải trải qua rất nhiều công đoạn: Đầu tiên là tìm mua nguyên vật liệu, làm vanh, giẽ lá, là lá, quay nón, nức, nhôi và sấy. Một chiếc nón khi “ra đời” đòi hỏi người làm phải thao tác với một đôi tay khéo léo và kiên trì. Nguyên liệu làm nón gồm: lá, khuôn, vanh, mo tre hoặc mo nứa, sợi cước, sợi len để nhôi và một lưỡi cày để là lá. Khi có đủ nguyên liệu thì bắt tay vào làm từng công đoạn. Lá làm nón là lá thanh được bà con mang từ Hà Tây về theo chợ phiên, cứ năm ngày chợ họp một lần. 100 cành lá được nhập với giá từ 14.000 đến 15.000 đồng, làm ra một chiếc nón cần 20 lá. Điều đặc biệt và khá ngạc nhiên về sự giản đơn trong công đoạn làm nón là khâu là lá: chỉ cần một chiếc lưỡi cày, một nụt vải được bó chặt, kèm theo ít củi để hơ nóng lưỡi cày. Hơ lưỡi cày dùng củi thì mới nóng đều chứ không dùng than. Khi lưỡi cày đã nóng, chiếc lá được đặt lên và cầm nụt vải là miết trên lá. Thế là một chiếc lá xoắn đã trở nên phẳng hiện những đường gân thẳng trên nền trắng. Để chiếc lá đẹp, người là phải nhanh tay vì nếu đặt lá lâu trên lưỡi cày sẽ làm lá có màu úa mất đi tính thẩm mỹ. Một chiếc nón được hoàn thành phải mất khoảng 3 giờ, muốn nón được trắng hơn khi làm xong hơ qua diêm sinh. Bình quân một ngày mỗi người làm được 3 chiếc. Người “giỏi nghề” may nhanh tay thì 2 giờ được một chiếc, có ngày làm được từ 5 đến 6 chiếc.

    Các hộ dân ở Sai Nga cho biết: “Nếu tập trung làm thì cũng được nhưng vì còn phải làm các việc lặt vặt khác như chăn con bò, con bê chứ đâu chỉ ngồi may nón cả ngày”. Nón được làm ra rất hiếm khi bán lẻ, thường mỗi lần bán cũng phải từ 10 đến 15 chiếc. Theo chợ phiên năm ngày bán một lần. Khi ra “thị trường”, mỗi chiếc nón bình thường bán với giá 7.500 đồng, nón “xịn” thì 18.000 đồng. Nếu làm đều thì thu nhập mỗi lao động bình quân khoảng 400.000 đồng/tháng.

    Nghề phụ thu nhập chính

    Nghề làm nón là nơi hội tụ đông đảo lao động, đặc biệt là lao động phụ. Tuy mức thu nhập chưa thực sự cao so với những nghề khác nhưng lại là nguồn thu nhập chính của dân.

    Nhờ có nghề làm nón mà đời sống người dân được cải thiện rõ rệt. Trước đây, nhiều gia đình đã giàu lên từ nghề làm nón, cái đói nghèo được đẩy lùi. Hiện nay, số lao động làm nón chiếm khoảng 80% lao động của toàn xã. Trong năm 2006, sản phẩm nón làm ra của làng hơn 300.000 chiếc, với doanh thu đạt gần 4 tỷ đồng, chiếm gần 60% giá trị thu nhập cả làng. Giá một chiếc nón khi bán ra, mặc dù còn thấp nhưng người dân không phải đem hàng đi bán, vì đã có khách ở các nơi đến đặt hàng. Chị Xuyên tâm sự: “Kinh tế không có phải làm, dù nhiều dù ít cũng phải nhặt nhạnh thêm, không có việc phải ngồi nhà. Nghề nhàn không vất, tranh thủ làm cũng kiếm được. Nón lá Sai Nga tuy nổi tiếng nhưng vẫn là nghề phụ “tự làm-tự tiêu” và đem lại nguồn thu nhập chính của bà con trong làng”.

    Ngày nay, do nhu cầu của cuộc sống, thói quen dùng nón che mưa che nắng của người dân đã có những đổi thay nên nghề làm nón ở đây quy mô nhỏ hơn trước. Một hướng đi mới để nghề phụ phát triển, khuyến khích làm nón, mở rộng thị trường tiêu thụ đồng thời người dân có cơ hội giao lưu với các làng nghề. Đặc biệt, nâng cao tay nghề về mẫu mã để nghề nón lá Sai Nga có “thương hiệu”, giữ được nét văn hóa của làng nghề truyền thống, đem lại hiệu quả kinh tế giúp bà con có cuộc sống ổn định.

    Bài và ảnh: Thu Hiền

    host

    Ý kiến bạn đọc

    0 bình luận
    Đang tải reCAPTCHA...