Giảm bớt các khoản đóng góp cho người dân nông thôn là việc làm cần thiết, phù hợp. Cuối năm 2007, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định 154 về việc miễn thủy lợi phí đối với các hộ nông dân sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản và làm muối.
![]() |
|
Hiện cả nước có hàng chục nghìn km kênh trục dẫn nước vào nội đồng. Ảnh: Theo VNN |
Bạn đọc quan tâm: Chủ trương miễn thủy lợi phí được quy định cụ thể như thế nào? Những vấn đề gì cần tiếp tục tháo gỡ trên thực tế? Báo Quân đội nhân dân xin giải đáp một phần câu hỏi này.
Một chủ trương hợp lòng dân
Nghị định 154 về miễn thủy lợi phí bắt đầu áp dụng từ ngày sẽ đem lại niềm vui và lợi ích cho hàng triệu nông dân trên cả nước. Theo đó, toàn bộ chi phí vận hành, duy tu, bảo dưỡng hệ thống thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp sẽ do ngân sách Nhà nước cấp cho các công ty khai thác công trình thủy lợi, thủy nông.
Cần nói rõ, Nghị định số 154 vừa được ban hành là nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 143 (ban hành ngày 28-11-2003 quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi). Theo Nghị định 143: “Đối với địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn thì giảm từ 50% đến 70% mức thủy lợi phí”. Quy định này không sát với điều kiện, hoàn cảnh người dân. Trên thực tế, chỉ những địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn mới được miễn thủy lợi phí, còn hầu hết người nông dân có thu nhập thấp hằng năm vẫn phải gánh một khoản lệ phí không nhỏ cho thủy lợi, thủy nông.
Khắc phục vấn đề trên, tại Nghị định 154, Chính phủ quy định cụ thể và sát thực hơn về đối tượng, phạm vi, diện tích miễn đóng góp thủy lợi phí. Đó là sẽ áp dụng miễn thủy lợi phí đối với hộ gia đình, cá nhân có đất, mặt nước dùng vào sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản và làm muối trong hạn mức giao đất nông nghiệp. Đất bao gồm đất do Nhà nước giao, đất được thừa kế, cho tặng, nhận chuyển nhượng hợp pháp, kể cả phần diện tích đất 5% công ích do địa phương quản lý. Không miễn thủy lợi phí đối với diện tích đất vượt hạn mức giao cho hộ gia đình, cá nhân. Riêng đối với các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (theo quy định của Luật Đầu tư) sẽ được miễn thủy lợi phí đối với toàn bộ diện tích đất, mặt nước dùng vào nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản, làm muối; không phân biệt trong hay ngoài hạn mức giao đất.
Nghị định cũng quy định rõ, sẽ không miễn thủy lợi phí đối với diện tích đất vượt hạn mức giao cho hộ gia đình, cá nhân (không thuộc địa bàn điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn); các tổ chức, cá nhân nộp thủy lợi phí cho tổ chức hợp tác dùng nước theo thỏa thuận phục vụ cho hoạt động của các tổ hợp tác dùng nước từ vị trí cống đầu kênh của hợp tác dùng nước đến mặt ruộng. Đồng thời, cũng không miễn thủy lợi phí đối với các doanh nghiệp hoạt động cung cấp nước cho sản xuất công nghiệp, tiêu nước cho sản xuất công nghiệp, nước cấp cho các nhà máy nước sạch, thủy điện, kinh doanh du lịch, vận tải qua cống, âu thuyền và các hoạt động khác được hưởng lợi từ công trình thủy lợi.
Miễn thủy lợi phí là một chủ trương hợp lòng dân, đáp ứng mong mỏi của đa số các hộ nông dân. Hiện nay, đời sống của người dân nông thôn, đặc biệt là miền núi còn gặp rất nhiều khó khăn. Vì vậy, miễn thủy lợi phí đồng nghĩa với việc người nông dân được giảm bớt một phần chi phí sản xuất nông nghiệp và có thêm điều kiện thu nhập để cải thiện đời sống. Đây chính là động lực mới để người dân an tâm phát triển sản xuất, xóa đói, giảm nghèo trên chính mảnh đất của mình.
Phân định chức năng, kiện toàn hệ thống thủy nông
Theo Cục Thủy lợi, nước ta hiện có 75 hệ thống thủy lợi lớn, 1.967 hồ chứa nước, 10.000 trạm bơm, 1.000km kênh trục lớn, 5.000 cống tưới tiêu, 23.000km bờ bao. Việc vận hành, duy tu, bảo dưỡng đòi hỏi một lực lượng lớn cán bộ, công nhân, nhân viên kỹ thuật. Hiện nay, các đơn vị quản lý, khai thác công trình thủy lợi bao gồm những công ty khai thác công trình thủy lợi Nhà nước, công ty cổ phần, Ủy ban nhân dân xã, hợp tác xã, tổ hợp tác dùng nước quản lý vận hành hệ thống công trình thủy lợi…
Nghị định 154 quy định: Ngân sách trung ương bảo đảm kinh phí để cấp bù cho các đơn vị quản lý, khai thác công trình thủy lợi tương ứng với số thủy lợi phí được miễn. Riêng các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có điều tiết nguồn thu về ngân sách trung ương, thì tự bảo đảm kinh phí để cấp bù cho các đơn vị quản lý, khai thác công trình thủy lợi của địa phương tương ứng với số thủy lợi phí được miễn. Bên cạnh đó, ngân sách địa phương bảo đảm kinh phí thực hiện nhiệm vụ bảo dưỡng, duy tu, sửa chữa thường xuyên, sửa chữa lớn và các khoản hỗ trợ theo chế độ hiện hành đối với các công trình thủy lợi của các đơn vị quản lý, khai thác công trình thủy lợi do địa phương quản lý.
Miễn thủy lợi phí cũng đồng nghĩa với việc nâng cao trách nhiệm của các đơn vị thủy nông. Theo đó, các công ty quản lý, khai thác công trình thủy lợi Nhà nước thực hiện sắp xếp lại, thay đổi phương thức quản lý. Nếu quá trình thực hiện phát sinh lao động dôi dư thì người lao động dôi dư được hưởng chính sách như quy định áp dụng đối với lao động dôi dư của các công ty Nhà nước khi chuyển đổi sở hữu, giải thể, phá sản. Kinh phí để giải quyết được lấy từ Quỹ Hỗ trợ sắp xếp doanh nghiệp tại tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước. Đặc biệt, các công ty quản lý, khai thác công trình thủy lợi Nhà nước sẽ được ngân sách hỗ trợ kinh phí để xử lý xóa nợ đọng thủy lợi phí và lỗ do nguyên nhân khách quan đến trước thời điểm thực hiện chính sách miễn thủy lợi phí.
Chính sách hỗ trợ còn một số vướng mắc cần giải quyết
Trao đổi với chúng tôi, ông Hoàng Văn Nho, Phó chủ nhiệm Hợp tác xã nông nghiệp, xã Ninh Thắng, huyện Hoa Lư (Ninh Bình) cho biết: Chính sách miễn thủy lợi phí được người dân quê tôi đón nhận một cách hồ hởi. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn đang chờ kế hoạch triển khai cụ thể ở địa phương như thế nào. Theo quy định, không áp dụng chính sách miễn thủy lợi phí đối với các tổ chức, cá nhân nộp thủy lợi phí cho tổ chức hợp tác dùng nước theo thỏa thuận. Xã tôi có 5 trạm bơm, trong đó chỉ có một trạm bơm của công ty khai thác công trình thủy nông, còn lại 4 trạm bơm do nhân dân tự đóng góp xây dựng, vận hành. Nếu không phải nộp thủy lợi phí đối với các công trình thuộc các công ty thì người dân xã tôi thiệt quá, vì vẫn phải đóng một khoản thủy lợi phí cho 4 trạm còn lại. Trong khi đó, bên xã Ninh Vân hầu hết số trạm bơm do các công ty quản lý, như thế nông dân mới thực sự được lợi từ việc miễn thủy lợi phí!
Qua tìm hiểu, chúng tôi được biết, xã Ninh Thắng có 250ha đất canh tác lúa cần tưới nước. Trong khi đó, công ty thủy nông chỉ chủ động cung cấp nước được gần 72ha, diện tích còn lại dựa vào tạo nguồn, thủy triều và hoạt động của các trạm bơm theo kiểu “tự cấp, tự túc”. Nếu “quy ra thóc”, mỗi năm người dân toàn xã phải nộp cho công ty Nhà nước hơn 43 tấn tóc/năm (24 tấn vụ chiêm, 19 tấn vụ mùa). Trong khi đó, mức nộp cho hoạt động của 4 trạm bơm nhân dân tự xây dựng (cộng một số dịch vụ bảo vệ đồng điền, duy tu, bảo dưỡng, tiền điện, nhân công…) là 55 tấn vụ chiêm và gần 45 tấn vụ mùa. Vì vậy, theo ý kiến của nhiều người dân, các ngành chức năng nên xem xét đặc điểm từng vùng, từng địa phương để có chính sách hỗ trợ hợp lý hơn.
Theo Nghị định 154 thì ngân sách trung ương hỗ trợ cho các công ty quản lý, khai thác công trình thủy lợi do trung ương quản lý. Còn ngân sách địa phương hỗ trợ cho các công ty quản lý, khai thác công trình thủy lợi do địa phương quản lý. Theo chúng tôi, chính quyền các cấp cần phát huy tính chủ động, sáng tạo, huy động ngân sách địa phương để cân đối, hỗ trợ cho nông dân, tránh lạm dụng quá nhiều vào sự “bảo hộ” của Nhà nước.
Sắp tới, Bộ Tài chính sẽ ban hành Thông tư hướng dẫn việc thực hiện Nghị định 154 của Thủ tướng Chính phủ; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng sẽ tiếp tục nghiên cứu, giải quyết vướng mắc, tiến hành xây dựng văn bản liên quan đến quản lý hoạt động của toàn bộ hệ thống thủy lợi trong tương lai, từng bước phát huy mạnh hơn tính hàng hóa của các nguồn nước thủy lợi, phục vụ tốt hơn hoạt động sản xuất nông nghiệp.
LÊ THIẾT HÙNG
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận