Thứ Ba, 14/04/2009, 18:31

    Nội địa hóa sản phẩm thúc đẩy phát triển kinh tế

    Trong một chuyến khảo sát mới đây, một chuyên gia kinh tế Nhật Bản đã hết sức ngạc nhiên khi biết các công ty nước ngoài tại Việt Nam phải nhập khẩu từ 30 đến 60% linh kiện cho các sản phẩm tổng thành...

    Trong một chuyến khảo sát mới đây, một chuyên gia kinh tế Nhật Bản đã hết sức ngạc nhiên khi biết các công ty nước ngoài tại Việt Nam phải nhập khẩu từ 30 đến 60% linh kiện cho các sản phẩm tổng thành. Đó là các chi tiết đặc biệt bằng kim loại, cao su, nhựa... của ô tô, xe máy, máy giặt, tủ lạnh, điều hòa nhiệt độ, máy in, máy ảnh..., nói chung là các mặt hàng công nghiệp, đồ gia dụng và văn phòng. Thậm chí, từ vỏ chai đựng rượu hay đựng đồ hóa mỹ phẩm cao cấp, đến những con ốc vít chi tiết máy đặc biệt, cũng phải nhập khẩu vì sản xuất trong nước không đáp ứng được.

    No image available

    Sản phẩm của Công ty Honda Việt Nam có tỉ lệ nội địa hóa cao nhưng vẫn bảo đảm chất lượng. Ảnh: Lê Thiết Hùng

    Về mặt lý thuyết, khoảng 30-60% linh kiện cho sản phẩm công nghiệp hay các đồ gia dụng, văn phòng kể trên, Việt Nam có thể hoàn toàn tự sản xuất, đồng nghĩa với tăng thêm công ăn việc làm cho hàng vạn nhân công. Điều mà chúng ta quan tâm ở đây là “chất lượng sản phẩm nội địa”. Vì có một thực trạng mà ai cũng nhận ra ngay khi đề cập đến vấn đề này, đó là nhiều mặt hàng của Việt Nam sản xuất chất lượng còn kém, hình thức xấu, mẫu mã đơn điệu… Nghĩa là nếu “nhìn và cảm nhận” cùng một loại sản phẩm ngoại nhập và do Việt Nam sản xuất, có thể dễ dàng nhận thấy sự chênh lệch về chất lượng, thẩm mỹ và mẫu mã, trong khi chúng ta hoàn toàn có thể nhập thiết bị, công nghệ và nguyên vật liệu để sản xuất. Vậy phải chăng là do con người, cụ thể là do trình độ tay nghề của lao động người Việt còn non kém? Nếu xem xét nghiêm túc, có thể mạnh dạn trả lời rằng “Không”. Minh chứng là trong các cuộc thi tay nghề khối ASEAN gần đây, Việt thường được xếp thứ hạng rất cao, có lần còn giật giải quán quân. Người lao động Việt ở nước ngoài vẫn được đối tác đánh giá là có trình độ tay nghề cao, so với lao động các nước khác trong khu vực.

    Trên đây mới chỉ nhắc đến những lao động chỉ yêu cầu kỹ thuật, tay nghề thông dụng (vì đang đề cập đến tình trạng thiếu việc làm cho lớp đối tượng rất đông đảo này), chứ chưa bàn đến những cán bộ kỹ thuật yêu cầu chất xám cao với số lượng ít hơn. Vậy nguyên nhân ở đây là gì? Có thể khẳng định, một phần là do chúng ta, đặc biệt ở đây là các nhà hoạch định chiến lược công nghiệp vĩ mô, dường như vẫn giữ “tư duy thời bao cấp”, khi mà hàng hóa rất hiếm hoi, cung không đủ cầu. Khi mà chúng ta chỉ có ý thức sản xuất sao cho nhanh, ra sản phẩm cho nhiều - mà vẫn phải phân phối, chưa đủ cung ứng tự do - nên đã hình thành thói quen không cần chú trọng đến chất lượng, thẩm mỹ và đa dạng hóa mẫu mã.

    Ngoài ra, một số doanh nghiệp còn có tâm lý buông xuôi, cân nhắc thiệt hơn, tự ti, nghĩ rằng mình không thể theo kịp hàng ngoại nên không quyết tâm đầu tư, nâng cao chất lượng sản phẩm. Bên cạnh đó, trong xu thế hội nhập, hàng hóa nước ngoài tràn vào nhiều, đa số có mẫu mã đẹp, đa dạng, chất lượng cao hơn hẳn thứ cùng loại trong nước, giá cả lại hợp lý… đã khiến cho người tiêu dùng nhiễm thói quen “sính” hàng ngoại, coi thường hàng nội. Điều đó lý giải vì sao quyết tâm “nội địa hóa sản phẩm” của chúng ta còn gặp rất nhiều khó khăn. Hệ lụy đó chính là từ lâu, chúng ta đã để mất đi rất nhiều việc làm, khiến cho tình trạng thất nghiệp càng gia tăng, nhất là trong tình trạng suy thoái kinh tế toàn cầu hiện nay.

    Tuy nhiên, cũng có một điều đáng mừng là những năm gần đây, người tiêu dùng nội địa đã dần nhận ra khá nhiều loại hàng hóa Việt có chất lượng hơn hẳn hàng nhập khẩu, ít ra là từ Trung Quốc. Đó chính là động lực và thời điểm để các nhà hoạch định chính sách công nghiệp, các nhà sản xuất cần đề ra và thực thi một chiến lược chỉ sản xuất hàng chất lượng cao, dựa trên những tiêu chuẩn cụ thể nào đó, chẳng hạn sản phẩm cùng loại nhập khẩu mà người sử dụng ưa chuộng. Tiến lên một bước, có thể đề ra những quy chuẩn chất lượng hàng hóa buộc các nhà sản xuất phải thực hiện. Sau một thời gian, ràng buộc pháp lý đó không cần thiết nữa, vì tư duy về chất lượng sản phẩm cao đã được định hình, kết hợp với sự đào thải tự nhiên của thị trường, tự khắc nhà sản xuất phải tìm cách làm ra thứ hàng hóa đạt tiêu chuẩn, sánh ngang và tiến tới vượt hơn so với hàng nhập khẩu.

    Một khi chất lượng sản phẩm nội địa bảo đảm yêu cầu của nhà lắp ráp (ô tô, xe máy, hàng gia dụng, văn phòng... thậm chí là vũ khí, máy bay, tàu ngầm, hay các thiết bị hàng không vũ trụ trong tương lai), tất sẽ hình thành những nhà máy vệ tinh trong một khu công nghiệp lớn, mang lại rất nhiều việc làm cho người lao động. Kèm theo đó là làm giảm thiểu rất nhiều chi phí khác so với khi nhập khẩu: chênh lệch giá cả, phí vận chuyển, tiến độ sản xuất..., dẫn đến hạ giá thành sản phẩm tổng thành. Tức là tạo nên một vòng quay mới, thúc đẩy sản xuất, ổn định việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động. Rõ ràng, thành công trong việc “nội địa hóa sản phẩm” không chỉ chống được suy thoái kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội cho hiện tại mà còn tạo dựng cơ sở để thúc đẩy đất nước phát triển mạnh mẽ và bền vững trong tương lai.

    HÀ VÂN ANH (Trung tâm Dịch vụ việc làm 20-10, Thành Hội phụ nữ Hà Nội)

    host

    Ý kiến bạn đọc

    0 bình luận
    Đang tải reCAPTCHA...