Ngày 29-10, lần thứ 18 liên tiếp Đại hội đồng LHQ thông qua Nghị quyết “Sự cần thiết chấm dứt cấm vận kinh tế, thương mại và tài chính của Mỹ chống Cu-ba” với sự ủng hộ của đa số tuyệt đối của các nước thành viên (187/192)...
Ngày 29-10, lần thứ 18 liên tiếp Đại hội đồng LHQ thông qua Nghị quyết “Sự cần thiết chấm dứt cấm vận kinh tế, thương mại và tài chính của Mỹ chống Cu-ba” với sự ủng hộ của đa số tuyệt đối của các nước thành viên (187/192). Dễ dàng nhận thấy, kể từ kết quả cuộc bỏ phiếu của Đại hội đồng LHQ năm 1992 đến nay, số phiếu thuận ủng hộ việc đòi Mỹ bãi bỏ bao vây cấm vận ngày càng tăng. Điều này càng chứng tỏ chính sách cấm vận của Mỹ chống Cu-ba phi lí, vô nhân đạo và lỗi thời.
![]() |
| Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ Ian Kelly. (Ảnh: Internet). |
Một thực tế không thể phủ nhận là việc đơn phương cấm vận toàn diện chống Cu-ba của Oa-sinh-tơn là hành động vi phạm luật pháp quốc tế, kể cả các luật về tự do buôn bán và hàng hải, vi phạm nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của các nước. Nó đi ngược lại mục đích và tinh thần của Hiến chương LHQ. Chính sách lỗi thời này đang ngày càng bị lên án. Đáng tiếc là trong cuộc bỏ phiếu vừa rồi, Mỹ lại một lần nữa bỏ phiếu chống. Bộ Ngoại giao Mỹ cho rằng hiện chưa phải “thời điểm thích hợp” để dỡ bỏ bao vây, cấm vận chống Cu-ba.
Dù luôn luôn phủ nhận, Mỹ cũng không thể nào che giấu được thực tế là “bức tường” mà Mỹ dựng lên nhằm cô lập Cu-ba với thế giới bên ngoài đã gây thiệt hại to lớn thế nào với đất nước này. Từ khi có hiệu lực, ngày 3-2-1962, lệnh cấm vận này đã gây thiệt hại cho Cu-ba lên đến gần 225 tỉ USD. Rất nhiều chương trình xã hội như y tế, giáo dục, văn hóa, khoa học, giao thông vận tải và các dịch vụ khác của Cu-ba đã gặp nhiều khó khăn.
Giải thích cho hành động tiếp tục duy trì lệnh cấm vận, bất chấp sự lên án của cộng đồng quốc tế, đại diện Mỹ tại LHQ nói rằng, Oa-sinh-tơn “sẽ chỉ cân nhắc vấn đề này khi La Ha-ba-na có những thay đổi về chính trị, kinh tế và tài chính”. Vấn đề là chữ “thay đổi” ở đây được định nghĩa theo kiểu Oa-sinh-tơn. Vì sao Mỹ lại áp đặt bao vây, cấm vận Cu-ba lâu dài và khốc liệt như vậy? Không khó để trả lời câu hỏi này. Về mặt kinh tế, trước Cách mạng Cu-ba, người Mỹ nắm quyền kiểm soát 70% diện tích đất trồng trọt và 3/4 số ngành công nghiệp chủ yếu của đất nước này. Về mặt chính trị, cách mạng Cu-ba thành công đã trở thành tấm gương sáng cho các nước châu Phi, Mỹ La-tinh giành độc lập. Chính vì thế, sự thành công của một nhà nước Cu-ba độc lập theo mô hình chủ nghĩa xã hội sẽ càng ảnh hưởng xấu đến quyền lợi của Mỹ ở Nam Mỹ. Đó là điều mà Mỹ không thể chấp nhận.
Những tưởng rằng quan hệ Mỹ - Cu-ba sẽ có những dấu hiệu tiến triển tích cực với những tuyên bố của Tổng thống Mỹ Ba-rắc Ô-ba-ma (Barack Obama) khi mới đắc cử. Quả thật ông Ô-ba-ma cũng đã có những động thái “tích cực” để cải thiện quan hệ giữa hai nước khi quyết định bãi bỏ mọi hạn chế đối với các kiều dân Cu-ba trong việc gửi tiền cũng như số lần về thăm quê hương. Thế nhưng “tấm màn sắt” lạnh lẽo ngăn cách Cu-ba với thế giới vẫn không được dỡ bỏ, thậm chí còn được “gia cố” thêm bằng quyết định hôm 14-9-2009 của Tổng thống Ô-ba-ma kéo dài thêm một năm lệnh cấm vận với Cu-ba. Đại sứ Cu-ba tại Việt Nam Phrê-đê-xman Tu-rô Gôn-xa-lết (Fredesman Turro Gonzalez) hôm 26-10 đã nói rằng cuộc bao vây cấm vận của Mỹ chống lại Cu-ba trong suốt hơn nửa thế kỉ qua vẫn không hề thay đổi. Đó chỉ là quyết định gỡ bỏ những biện pháp siết chặt bao vây cấm vận mà chính quyền của Tổng thống G.Bu-sơ (G.Bush) đã áp đặt chống Cu-ba, có nghĩa là quay trở lại như trước thời của ông Bu-sơ, còn các chính sách bao vây cấm vận chống Cu-ba vẫn nguyên vẹn như trước.
Nhưng, thời thế đã đổi thay và biện pháp cấm vận này ngày càng tỏ ra vô tác dụng. Thực tế hơn 4 thập kỉ qua cho thấy, bất chấp sự chống phá và sức ép của lệnh bao vây cấm vận, Cu-ba vẫn đứng vững. Theo đánh giá của chính người Mỹ và các tổ chức quốc tế, Cu-ba đã đạt được một số thành tựu về xã hội hơn hẳn nước Mỹ, như bảo vệ sức khỏe toàn dân, giáo dục đại học và phổ thông, bảo đảm lương thực, thực phẩm và các tiện nghi sinh hoạt tối thiểu.
Như vậy, rõ ràng mục tiêu chiến lược của Oa-sinh-tơn-dùng lệnh cấm vận như một phương thức để thay đổi chế độ ở Cu-ba-đến nay hoàn toàn không thực hiện được. Trái lại, chính sách chống Cu-ba đã khiến Mỹ tổn thất lớn cả uy tín chính trị lẫn lợi ích kinh tế. Chính các công ty Mỹ cũng bị thiệt hại vì không làm ăn được với Cu-ba, chưa kể những cơ hội kinh doanh lớn ở Cu-ba trong tương lai, đặc biệt trong lĩnh vực dầu khí. Cu-ba mới phát hiện những mỏ dầu có trữ lượng lớn - thứ mà Mỹ rất cần. Về mặt chính trị, chính sách cấm vận chống Cu-ba đã khiến Oa-sinh-tơn mất vị trí ngay tại khu vực từng được coi là “sân sau” của Mỹ, là chướng ngại vật lớn nhất trên con đường cải thiện quan hệ của Mỹ với các nước Mỹ La-tinh.
Cả thế giới đồng thanh yêu cầu Mỹ dỡ bỏ lệnh cấm vận mà Mỹ áp đặt chống “Hòn đảo Tự do” suốt gần nửa thế kỉ qua, một trong những chính sách hà khắc, vi phạm nhân quyền, vi phạm luật pháp quốc tế. Đó là chính sách thù địch, trái ngược với trào lưu phát triển của thế giới, ngược lại với chính những yêu sách của Mỹ đòi các nước bảo vệ quyền con người và ngược với tuyên bố của người đứng đầu Nhà trắng: “Nước Mỹ cần thay đổi”.
THU TRANG
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận