Thứ Hai, 02/10/2006, 20:10

    Thương hiệu và chất lượng

    Niên vụ cà phê 2005-2006, được đánh giá là thành công nhất trong vòng 7 năm qua của người sản xuất và xuất khẩu cà phê nước ta. Tuy nhiên, bài toán về “chất lượng cà phê” vẫn khá nan giải...

    Niên vụ cà phê 2005-2006, được đánh giá là thành công nhất trong vòng 7 năm qua của người sản xuất và xuất khẩu cà phê nước ta. Tuy nhiên, bài toán về “chất lượng cà phê” vẫn khá nan giải. Còn một tháng nữa người sản xuất cà phê nước ta bắt tay vào thu hoạch cà phê niên vụ 2006-2007. Bài viết này đề cập đến một số thách thức của cà phê Việt khi "gia nhập" WTO.

    Đã nắm bắt được thị trường thế giới

    Theo đánh giá mới đây của Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam (Vicofa), niên vụ cà phê 2005-2006 là năm người sản xuất và các doanh nghiệp xuất khẩu cà phê nước ta gặt hái được nhiều thành công, vượt qua những khó khăn do thua lỗ kéo dài từ những năm trước. Nhìn lại niên vụ cà phê này, mặc dù phải chịu nhiều thiệt hại do hạn hán, nhưng sản lượng cà phê vẫn đạt 11 – 11,5 triệu bao (bao 60 kg). Trong đó, tỉnh Đắc Lắc dẫn đầu với 250 nghìn tấn, tiếp đến là Lâm Đồng: 190 nghìn tấn, Gia Lai: 120 nghìn tấn, Đắc Nông: 80 nghìn tấn, Đồng Nai: 40 nghìn tấn và các địa phương khác khoảng 60 nghìn tấn. So với niên vụ 2004-2005, sản lượng cà phê niên vụ 2005-2006 sụt giảm khoảng gần 10%, nhưng do giá cà phê cải thiện nên kim ngạch xuất khẩu tăng gần 30%: Niên vụ 2004-2005 cả nước xuất khẩu 803 nghìn tấn cà phê nhân, đạt kim ngạch 634,23 triệu USD. Trong khi đó, Vicofa ước tính tổng kim ngạch xuất khẩu cà phê cả niên vụ 2005-2006 sẽ đạt 750 – 800 triệu USD, đây là con số kỷ lục trong vòng 7 năm qua. Ông Vân Thành Huy, Chủ tịch Vicofa nhận định: “Kim ngạch xuất khẩu cà phê niên vụ 2005-2006 đã gần đạt mức bình quân 800 – 900 triệu USD/năm mà Vicofa đề ra trong kế hoạch xuất khẩu cà phê giai đoạn 2006-2010”.

    No image available

    Theo phân tích của Vicofa, kim ngạch xuất khẩu cà phê tăng cao trước hết do giá cà phê trên thị trường thế giới cải thiện, khi mà cung “cân đối với cầu”. Cụ thể, giá xuất khẩu đầu vụ, tháng 10-2005, là 813,32 USD/tấn; đến tháng 6-2006 tăng lên 1.151,49 USD/tấn; và đến tháng 9 này lên đến hơn 1.400 USD/tấn; giá xuất khẩu bình quân trong 9 tháng đạt 1.034 USD/tấn.

    Tuy nhiên, điều đáng ghi nhận là trong niên vụ này Vicofa đã có những dự báo đúng về tình hình cà phê thế giới, kịp thời đưa ra những khuyến cáo hợp lý, góp phần điều tiết lượng cà phê bán ra. Ngay từ đầu vụ, Vicofa đã nhận định sản lượng cà phê thế giới thấp hơn vụ trước và dự đoán giá cà phê sẽ tăng. Về phía người nông dân, khi nhận biết sản lượng giảm, bà con đã không bán cà phê ào ạt ngay từ đầu vụ như những năm trước, mà trữ lại hoặc bán ra từ từ. Chính điều này đã giữ giá cà phê ở mức cao, và tăng ổn định so với 6 năm trước. Đối với nước ta, 90% sản lượng cà phê sản xuất ra là để xuất khẩu, nên việc bán ra thị trường nước ngoài là tất yếu, vì vậy việc Vicofa khuyến khích bán cà phê đồng đều cho tất cả các tháng trong niên vụ là việc làm đúng, và thực tế đã góp phần ổn định giá cà phê.

    Về phía các nhà cung ứng và xuất khẩu cà phê cũng có những tiến bộ rõ rệt. Họ thận trọng hơn trong mua bán, không chạy theo số lượng, không ký bán hàng loạt các hợp đồng giao xa như trước, nên đã tránh được những rủi ro khi giá cà phê biến động. Một số đơn vị xuất khẩu cà phê nước ta đã biết sử dụng hợp đồng tương lai (Futures contrat), và tham gia sàn giao dịch cà phê thế giới để phòng chống rủi ro.

    Còn nhiều thách thức

    Theo các chuyên gia kinh tế, thách thức của cà phê Việt Nam khi gia nhập WTO chính là “thương hiệu” và “chất lượng”. Đây cũng là hai điểm yếu cần khắc phục của cà phê nước ta. Là nước có sản lượng cà phê robusta lớn nhất thế giới, nhưng lâu nay chúng ta chưa quan tâm tới việc đầu tư xây dựng thương hiệu cà phê. Vai trò của Nhà nước trong quản lý chất lượng cà phê xuất khẩu chưa thực sự phát huy tốt, nên chất lượng cũng như sức cạnh tranh và giá bán của mặt hàng cà phê nước ta trên thị trường thế giới luôn thua kém các nước khác.

    Thách thức lớn và cũng là tồn tại khó khắc phục nhất của cà phê nước ta là vấn đề chất lượng cà phê nhân. Theo đánh giá của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cà phê nước ta có chất lượng kém, tỷ lệ loại bỏ vào loại cao nhất thế giới: Năm 2005 cà phê robusta của Việt phải loại bỏ chiếm 89% của thế giới (1,65 triệu bao), và 6 tháng đầu năm 2006 tỷ lệ này là 88%. Vì thế, chúng ta đang phải chấp nhận một nghịch lý là giá bán cà phê luôn thấp hơn các nước khác tới 15-20%. Từ năm 2001 đến nay, mặc dù sản lượng cà phê xuất khẩu của nước ta đứng thứ hai thế giới (chỉ sau Bra-xin), nhưng kim ngạch xuất khẩu lại tụt xuống hàng thứ năm, sau Bra-xin, Cô-lôm-bi-a, Mê-hi-cô và In-đô-nê-xi-a.

    Một số nguyên nhân dẫn đến chất lượng cà phê xuất khẩu của nước ta thấp là do tập quán canh tác của người dân, phương pháp thu hái, chế biến còn lạc hậu.

    Tiến sĩ Hoàng Thanh Tiệm, Viện trưởng Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp Tây Nguyên khuyến cáo, trong thời gian tới không nên mở rộng diện tích cà phê robusta, mà cần tập trung vào thâm canh tăng năng suất và cải thiện chất lượng cà phê nhân; thay thế dần một phần diện tích cà phê robusta bằng cà phê arabica. Cũng theo Tiến sĩ Hoàng Thanh Tiệm, ở những vùng đất có độ cao từ 800 m trở lên rất phù hợp trồng cà phê arabica cho hạt cà phê chất lượng cao. Điều kiện tự nhiên ở nước ta có thể trồng được 100 nghìn héc-ta cà phê arabica, trong đó tập trung chủ yếu ở Tây Nguyên. Với việc tăng diện tích cà phê arabica phù hợp có thể tăng kim ngạch xuất khẩu, vì giá trị xuất khẩu cà phê arabica luôn cao hơn từ 1,5 đến 2 lần so với cà phê robusta. Ngoài ra, để cải thiện chất lượng cà phê cần quan tâm thực hiện tốt các khâu như phơi, bảo quản, đầu tư công nghệ chế biến ướt, công nghệ tinh chế cà phê.

    Theo nhận định của Vicofa, trong niên vụ mới 2006-2007 sản lượng cà phê của nước ta ước đạt 13,5 đến 14,5 triệu bao. Dự báo về sản lượng cà phê thế giới niên vụ 2006-2007, Tổ chức Cà phê Thế giới (ICO) ước tính đạt khoảng 120 triệu bao, tăng 12,5% so với 106,65 triệu bao của niên vụ 2005-2006. Trong đó, sản lượng cà phê ở một số quốc gia sản xuất cà phê hàng đầu thế giới như Bra-xin sẽ đạt khoảng 40,6 - 43,0 triệu bao, Cô-lôm-bi-a ước đạt 11,6 triệu bao. ICO cũng dự báo, nhu cầu tiêu thụ cà phê của thế giới trong niên vụ 2006-2007 khoảng 118 triệu bao. Nhìn vào dự báo “cung - cầu” cà phê của thế giới trong niên vụ tới cho thấy, khả năng dư thừa cà phê là khó xảy ra.

    Đây là tin vui cho người sản xuất và xuất khẩu cà phê nước ta. Tuy nhiên, để tiếp tục gặt hái được những thắng lợi như đã làm được trong niên vụ trước, Vicofa đưa ra kiến nghị Bộ Thương mại sớm có kế hoạch định hướng thị trường xuất khẩu, và có biện pháp hỗ trợ tăng năng lực xuất khẩu toàn diện cho các doanh nghiệp. Mặt khác, người nông dân và các đơn vị xuất khẩu cà phê đang rất cần được tạo điều kiện tiếp cận các nguồn vốn đầu tư để chủ động trong sản xuất và kinh doanh, tránh tình trạng do thiếu vốn mà phải bán cà phê ào ạt ngay từ đầu vụ, gây tác động xấu tới thị trường cà phê. Những vấn đề được xem là tồn tại ảnh hưởng xấu đến chất lượng cà phê nhân xuất khẩu cũng phải được người sản xuất, nhà chế biến, và đơn vị xuất khẩu quan tâm khắc phục triệt để.

    Niên vụ cà phê 2006-2007 hy vọng chất lượng cà phê nước ta được cải thiện, thương hiệu cà phê robusta của Việt được khẳng định trên thị trường cà phê thế giới và mục tiêu kim ngạch xuất khẩu 800-900 triệu USD/năm mà Vicofa đưa ra sẽ thành hiện thực.

    Kiều Bình Định

    host

    Ý kiến bạn đọc

    0 bình luận
    Đang tải reCAPTCHA...