Thứ Ba, 12/06/2007, 10:56

    Tiếng gọi vươn ra biển xa

    Ngành thủy sản đã trở thành ngành kinh tế quan trọng của đất nước với giá trị xuất khẩu liên tục tăng trong những năm trở lại đây. Sản lượng khai thác hải sản đạt từ 1,5 đến 1,8 triệu tấn/năm. Tuy nhiên, khai thác hải sản đang phải đối mặt với nhiều thách thức, tiềm ẩn những yếu tố phát triển kém bền vững...

    Ngành thủy sản đã trở thành ngành kinh tế quan trọng của đất nước với giá trị xuất khẩu liên tục tăng trong những năm trở lại đây. Sản lượng khai thác hải sản đạt từ 1,5 đến 1,8 triệu tấn/năm. Tuy nhiên, khai thác hải sản đang phải đối mặt với nhiều thách thức, tiềm ẩn những yếu tố phát triển kém bền vững. Biểu hiện rõ nét nhất là nguồn hải sản ven bờ đang ngày càng cạn kiệt trong khi nguồn lợi hải sản xa bờ chúng ta chưa thực sự làm chủ. Hội nghị khai thác hải sản trên các vùng biển toàn quốc do Bộ Thủy sản vừa tổ chức tại Đà Nẵng đã đặt ra rất nhiều vấn đề cần phải giải quyết.

    Bộc lộ sự mất cân đối

    Ngay buổi đầu tiên hội nghị đã “nóng” với ý kiến phát biểu của ông Nguyễn Việt Thắng, Thứ trưởng Bộ Thuỷ sản quanh những thách thức mà việc khai thác hải sản đang đối mặt: Ngư dân không thể dùng tàu gỗ để vươn ra biển xa, không thể làm ăn manh mún mà hội nhập WTO, đó là điều tất yếu.

    No image available

    Phần lớn các tàu đánh bắt hải sản vẫn là tàu công suất nhỏ

    Hầu hết các ý kiến phát biểu tiếp theo đều đồng tình với ý kiến của Thứ trưởng Nguyễn Việt Thắng. Các ý kiến làm rõ những hạn chế trong khai thác hải sản hiện nay. Trước hết cần thấy rằng, đã bắt đầu xuất hiện sự mất cân đối giữa ngư trường (khu vực khai thác) và số lượng tàu thuyền tham gia khai thác. Tàu thuyền tăng nhanh cả về số lượng và kích cỡ, song ngư trường khai thác hầu như không mở rộng. Từ năm 1990 đến 2006, số lượng tàu cá cả nước tăng bình quân trên dưới 6%/năm, công suất máy tàu tăng bình quân 14,78%/năm. Đến hết ngày 30-4-2007 cả nước có khoảng gần 96 nghìn tàu thuyền, trong đó phần lớn là đánh bắt gần bờ, vì thế nó đã không làm cho ngư trường mở rộng. Số tàu thuyền có thể tham gia đánh bắt xa bờ khá khiêm tốn với khoảng 14 nghìn chiếc (loại công suất 90CV trở lên). Chính đặc điểm này đã làm cho mật độ đánh bắt tập trung cao, có vùng ven bờ mật độ 40 phương tiện/1km2. Hậu quả tiếp theo của hiện trạng này là dẫn đến việc khai thác lộn xộn và có biểu hiện tận thu. Chất lượng và giá trị sản phẩm thấp chiếm tỷ lệ cao trong các mẻ lưới, đặc biệt, nhiều loại thủy sản chưa trưởng thành cũng bị đánh bắt. Nguồn lợi thủy sản ven bờ bị khai thác vượt quá giới hạn bền vững, nhiều loại thuỷ sinh trở thành quý, hiếm và bị đe doạ biến mất.

    Vài năm trở lại đây, thời tiết trên các vùng biển diễn biến khá phức tạp, cùng với phương tiện đánh bắt thiếu độ an toàn đã dẫn tới nhiều mối đe dọa, nguy cơ mất an toàn cho ngư dân đi biển. Năm 2006 xuất hiện 10 cơn bão trên Biển Đông làm 298 người chết và mất tích, gần 1000 tàu chìm. Đà Nẵng, Quảng Nam là những địa phương chịu thiệt hại nặng nề. Ngư dân một phần do điều kiện kinh tế còn khó khăn, nhưng cũng do tâm lý tiết kiệm theo kiểu tận dụng nên ít chịu đầu tư cho phương tiện khai thác. Phần lớn số phương tiện lắp máy công suất nhỏ, trang thiết bị trên tàu, hệ thống thông tin liên lạc và đảm bảo an toàn hạn chế. Tình trạng sử dụng động cơ máy đã qua sử dụng hoặc không rõ nguồn gốc lắp vào tàu thuyền đã làm cho chất lượng máy không đảm bảo.

    Hướng tới khai thác xa bờ

    Giải pháp được đông đảo các ý kiến đồng tình trong khai thác hải sản hiện nay là phải hướng tới khai thác xa bờ, giảm áp lực khai thác gần bờ bằng cách cơ cấu lại lao động nghề biển. Mục tiêu của Bộ Thủy sản cũng như các địa phương là đảm bảo cho nghề cá xa bờ bền vững và hiệu quả, đồng thời duy trì những chức năng hệ sinh thái biển và quan hệ hài hoà với nghề cá ven bờ.

    Hiện nay, tàu thuyền của chúng ta công suất vẫn còn nhỏ, chiều dài vỏ tàu phần lớn không quá 25m, tốc độ kéo lưới của tàu lưới kéo tương đối thấp. Gọi là đánh bắt xa bờ nhưng thực sự chưa ra được những vùng biển lớn, chưa khai thác được ở những vùng có độ sâu lớn.

    Chúng ta cần tăng cường nghiên cứu nguồn lợi hải sản xa bờ. Mặc dù đã có những nghiên cứu đánh giá nhưng hiện nay, chúng ta vẫn chưa có số liệu chính xác về trữ lượng nguồn lợi, khả năng đánh bắt, lập các bản đồ ngư trường, dự báo ngư trường để phục vụ đắc lực cho sản xuất. Đây là vấn đề rất quan trọng đòi hỏi phải tiếp tục đầu tư nghiên cứu ngay. Tình trạng cạnh tranh trong khai thác (tàu đánh cá nước ngoài vào đánh cá trộm) đòi hỏi phải phát triển mạnh các đội tàu. Thực tế, muốn đánh bắt xa bờ có hiệu quả, đảm bảo phát triển bền vững cần hạn chế đánh bắt bằng lưới kéo. Bởi sử dụng biện pháp lưới kéo sẽ tàn phá nền đáy, các rạn san hô, làm ảnh hưởng đến môi trường sống của các loài động-thực vật thủy sinh. Rất nhiều tàu kéo đang sử dụng kích thước mắt lưới nhỏ hơn quy định dẫn tới tận thu nhiều cá non tuổi, ảnh hưởng đến việc tái tạo nguồn lợi.

    Một trong những giải pháp được quan tâm là phải mở rộng các hợp tác xã khai thác xa bờ, hình thành các đội tàu lớn đánh bắt xa bờ. Đây là mô hình rất cần thiết đảm bảo sự tương hỗ trên biển. Những nước công nghiệp phát triển đều có các đội tàu đánh bắt xa bờ mạnh như Mỹ, Nhật, Nga… Bên cạnh đó, chúng ta cần phải xây dựng được mô hình tổ chức khai thác thu mua cá trên biển có hiệu quả, giúp các tàu khai thác xa bờ có thể bám biển dài ngày, hạn chế được nhiên liệu chạy tàu, đồng thời gắn với việc đảm bảo quốc phòng an ninh trên biển.

    Để đảm bảo cho ngư dân có thể ra xa bờ, đánh bắt dài ngày trên biển thì các tàu phải được trang bị phương tiện kỹ thuật đảm bảo theo dõi hoạt động của tàu thuyền, cứu hộ, cứu nạn nhanh chóng, hỗ trợ ngư dân phòng tránh bão, trong những vụ đụng độ, va chạm trên biển và giám sát sự vi phạm của tàu cá nước ngoài. Những việc này một mình ngư dân không thể làm được mà nó phải có sự hỗ trợ, chỉ đạo xây dựng của các địa phương cùng các bộ, ngành. Nhiều vấn đề phải tính tới như chính sách hỗ trợ, vốn, đào tạo nâng cao trình độ lao động…

    Mục tiêu được ngành thủy sản và các địa phương tham gia hội nghị đề xuất là giảm sản lượng 5%/năm đến năm 2010 và 2%/năm đến năm 2020 với việc khai thác nguồn lợi hải sản ven bờ, đảm bảo sản lượng khai thác ven bờ chỉ chiếm khoảng 1/3 tổng sản lượng hải sản khai thác của cả nước. Song song với đó, tăng 6%/năm đến năm 2010 và 3%/năm đến năm 2020 với việc khai thác hải sản xa bờ đảm bảo sản lượng khai thác xa bờ lên 2/3 tổng sản lượng khai thác cả nước.

    NGUYỄN TUYÊN SƠN

    host

    Ý kiến bạn đọc

    0 bình luận
    Đang tải reCAPTCHA...