Mặc dù rất bận rộn với công việc, ông Hoàng Ngọc Diệp, chuyên gia cao cấp về quản trị và công nghệ thông tin-viễn thông (CNTT-VT) vẫn dành cho chúng tôi cuộc trao đổi xoay quanh vấn đề phát triển, đồng thời đưa ra những nhận định, khuyến cáo tránh lãng phí và trì trệ trong quá trình xây dựng ngành CNTT trong nước...
![]() |
- Từ khi nghỉ làm Giám đốc cao cấp cho Qualcomm vào giữa năm 2008, ông làm gì?
- Tôi mới nghỉ được vài tuần thì một số tập đoàn về CNTT, quản trị và tài chính đến giới thiệu về các giải pháp và nêu ý muốn của họ về hoạt động và đầu tư tại Việt Nam. Vì tính cấp bách và hiệu quả của các giải pháp cũng như giá trị của các kế hoạch này, tôi không thể từ chối tham gia, nhưng chỉ như là một cố vấn chiến lược và quản trị cho họ mà thôi. Bên cạnh đó, tôi cũng vẫn tiếp tục tham gia một số kế hoạch của các cơ quan khác. Quả là, tôi bận rộn hơn, nhưng rất vui vì đây là môi trường làm việc mà tôi thích nhất.
- Ông có đánh giá gì về ngành CNTT Việt Nam sau hơn 15 năm hoạt động trong lĩnh vực này?
- Tôi có thể lấy ví dụ thế này: Một đám đông được giao miếng đất và vốn liếng nhằm xây dựng một tòa nhà lớn để dùng chung. Mỗi người tự tưởng tượng ra tòa nhà này theo hiểu biết và mong muốn của họ, rồi mỗi người cứ tự ý tham gia đầu tư, cung cấp những ý tưởng, sản phẩm, vật tư, kế hoạch trong khả năng của mình. Sau một thời gian, nhìn lại, trên mảnh đất trống này gần như mọi thứ đều có thể hình thành một tòa nhà chung, nhưng tòa nhà cụ thể, hiện hữu thì vẫn chưa thấy đâu! Trong ngành CNTT, cũng tương tự như vậy, đầu tư thì vô kể nhưng hầu hết đều là những máy móc, mạng lưới, ngay cả ứng dụng nhưng tất cả những cái đó chưa phản ánh được trị giá và tính hiệu quả của đầu tư.
- Có thể hiểu như thế nào về phần chính yếu của ngành CNTT?
- Nếu nhìn từ góc độ vĩ mô, thì ngành CNTT có 4 phần chính yếu: Thứ nhất, là hành lang pháp lý và các tiêu chuẩn chính yếu. Thứ hai, nội dung thông tin. Thứ ba, mạng thông tin. Thứ tư, con người để quản lý, phát triển và sử dụng hiệu quả thông tin. Ở góc độ vi mô và cấp thực hiện thì có rất nhiều phần khác nhau, liên kết chặt chẽ và nhịp nhàng, từ cấp lãnh đạo đánh giá đúng mức giá trị của “công cụ” CNTT và những yêu cầu hợp tác giữa các phòng, ban trong tổ chức, các thay đổi về quy trình quản lý đến cấp quản lý dự án cũng như một quy trình triển khai hợp lý, an toàn, hiệu quả và tránh lãng phí.
Cho tới nay, các tiêu chuẩn chính yếu vẫn chưa hình thành một cách rõ ràng và đầy đủ; còn loay hoay về việc xây dựng một tiêu chuẩn cấu trúc cơ sở dữ liệu chung cho các ngành; chưa rõ ràng về cách tạo dựng thông tin có đủ tính pháp lý để hình thành các cơ sở dữ liệu lớn này. Còn phần nhân lực thì chúng ta không thiếu chuyên viên, nhưng hầu hết đều chỉ đáp ứng cho phần máy móc và các phần mềm đầu cuối, có rất ít cho các phần chuyên sâu quan trọng khác.
- Vào tháng 7-2008, trên một tờ báo có đề cập về các khu, các công viên phần mềm và có nhắc đến tên cùng nhận định của ông. Sự thực là thế nào thưa ông?
- Tôi thường xuyên sinh hoạt với anh em trẻ đam mê ngành CNTT và trao đổi với họ những hiểu biết, kinh nghiệm của mình. Khi đề tài “Công viên phần mềm” được đặt ra, tôi có thẳng thắn chia sẻ với các bạn trẻ này dựa trên góc độ quản trị và kinh nghiệm cá nhân. Tôi có phân tích về tầm quan trọng và giá trị thiết thực đối với quy hoạch của các “khu công nghiệp”, “khu chế xuất”... Nhưng đối với sản xuất phần mềm, không cần “tập trung xử lý môi trường”, “logistics” hay đòi hỏi nhiều về cơ sở hạ tầng. Hơn thế nữa, các công ty phần mềm cần linh hoạt, bảo mật và nhất là giữ được những chuyên viên của họ, đặc biệt là chuyên viên cao cấp mà họ đã đầu tư đào tạo.
Vì vậy, việc tổ chức các “công viên phần mềm” tập trung thật sự không giải quyết các nhu cầu quan trọng của các công ty phần mềm. Hơn nữa, việc quy hoạch các “công viên” để có ưu tiên về thuế là việc bất cập. Bởi vì, nếu để phát triển ngành công nghiệp phần mềm thì tại sao một công ty nhỏ bên ngoài lại không cùng được hưởng sự ưu tiên, như vào trong các “khu quy hoạch” của “công viên phần mềm”? Trên thực tế, đã có khá nhiều công ty chỉ đăng ký vào các “công viên” để hưởng quyền lợi và họ vẫn có văn phòng bên ngoài cho các chuyên viên hoạt động.
- Theo quan điểm của ông, hiện nay, ngành CNTT phải tiếp cận, làm và điều chỉnh những gì?
- Để hình thành ngành CNTT của một nước phải căn cứ vào nhu cầu phát triển các hệ thống IT cho Chính phủ, cho các tổ chức kinh doanh lớn. Đồng thời, dựa trên các hệ thống này những nền ứng dụng chính như eGovernment, eBanking, eHealthcare, eCommerce, eLearning, v.v.. bổ sung cho nhau, trở thành điều kiện tiên quyết và là xương sống cho sự phát triển CNTT trong nước. Muốn phát triển các hệ thống IT thành công cho các lĩnh vực này, các yếu tố chính cần phải bảo đảm như: môi trường pháp lý, tiêu chuẩn công nghệ, giải pháp kỹ thuật, phương pháp đào tạo và vận hành, v.v.. luôn cần phải có những chuẩn mực cao nhất.
- Ông có thể cụ thể hóa một số khía cạnh?
- Thứ nhất, cần hình thành các nhóm liên ngành, giữa các tổ chức Nhà nước, các hiệp hội và các nhóm chuyên gia bên ngoài để hoạch định các chương trình nghiên cứu và kế hoạch triển khai cụ thể.
- Thứ hai, hình thành các nhóm chuyên gia trong và ngoài nước để thiết lập và tiến hành đào tạo ngắn hạn cho các cấp, từ cấp lãnh đạo, các ban quản lý IT, cho đến các nhóm chuyên gia cao cấp và chuyên viên về giá trị và hiệu quả thực tế của “công cụ” CNTT, các cách tiếp cận quản lý một dự án IT lớn và phức tạp v.v..
- Thứ ba, hình thành các nhóm chuyên gia độc lập để đánh giá, phản biện và đúc rút các kiến nghị về tính hợp lý của phương pháp quản lý và triển khai, mức độ thành công, mức độ rủi ro, v.v.. của các dự án IT lớn.
- Thứ tư, hình thành các nhóm chuyên nghiên cứu, đánh giá các giải pháp công nghệ, kỹ thuật trong và ngoài nước để đưa vào những dự án IT lớn, phù hợp với các tiêu chuẩn thế giới và trong nước. Và thứ năm, hình thành và triển khai một số kế hoạch IT trong giới hạn để tạo ra các chuẩn mực và mô hình quản lý hiệu quả trước khi mở rộng và đầu tư dàn trải. - Xin cảm ơn ông! SĨ BÌNH (thực hiện)
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận