Thứ Năm, 12/02/2009, 21:08

    “Vượt thác” để đạt mục tiêu 72 tỷ USD

    Mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam năm 2009 là 13% (tương đương kim ngạch xuất khẩu 72 tỷ USD). Đạt được mục tiêu này là không dễ khi các sản phẩm xuất khẩu mũi nhọn như dầu thô, dệt may, thủy sản... đều đang gặp khó khăn, nhiều mặt hàng giảm cả về giá và khối lượng...

    Mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu của Việt năm 2009 là 13% (tương đương kim ngạch xuất khẩu 72 tỷ USD). Đạt được mục tiêu này là không dễ khi các sản phẩm xuất khẩu mũi nhọn như dầu thô, dệt may, thủy sản... đều đang gặp khó khăn, nhiều mặt hàng giảm cả về giá và khối lượng. Chúng tôi đã trao đổi với đồng chí Nguyễn Thành Biên, Thứ trưởng Bộ Công Thương về các biện pháp “vượt thác” của xuất khẩu trong năm 2009 vì mục tiêu chống suy giảm kinh tế, giữ việc làm cho người lao động.

    Đẩy mạnh xúc tiến thương mại, tìm thị trường mới

    - Làm thế nào để chúng ta đạt được mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu 13% (tương đương kim ngạch xuất khẩu 72 tỷ USD) khi những ngành mũi nhọn như dầu thô, may mặc, thủy sản đều đang gặp trở ngại và kim ngạch xuất khẩu tháng 1 sụt giảm mạnh?

    - Tháng 1-2009, kim ngạch xuất khẩu của nước ta ước đạt 3,8 tỷ USD, giảm 24,2% so với cùng kỳ năm 2008 và giảm 18,6% so với tháng 12-2008. Ngay cả các nền kinh tế lớn của châu Á trong tháng 1-2009 cũng bị giảm mạnh về xuất khẩu. Ví dụ như Nhật Bản giảm 46,1%, Hàn Quốc giảm 32,8%, Trung Quốc giảm 14%...

    No image available

    Hoạt động xúc tiến thương mại, tìm thị trường mới có ý nghĩa quyết định để đạt mục tiêu xuất khẩu trong năm 2009. Trong ảnh: Một hội chợ xúc tiến thương mại hàng Việt tại Lào. Ảnh: Lê Thiết Hùng

    Trong tình hình đó, Bộ Công Thương vẫn đề ra mục tiêu phấn đấu đạt mức tăng trưởng xuất khẩu cao nhất, làm động lực thúc đẩy tăng trưởng GDP, giải quyết việc làm và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động. Bộ đã chỉ đạo thực hiện một số giải pháp cụ thể như:

    Nâng cao chất lượng, tăng giá trị hàng hóa xuất khẩu đối với các mặt hàng truyền thống, các mặt hàng sản xuất không có điều kiện tăng nhiều về khối lượng do bị hạn chế về cơ cấu (diện tích, năng suất, thời tiết…), trong đó đặc biệt chú ý đến nông, lâm, thủy sản.

    Đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng có kim ngạch lớn, có khả năng tăng trưởng cao, đóng góp quan trọng cho việc thực hiện kế hoạch xuất khẩu cũng như tạo nhiều công ăn việc làm, góp phần ổn định xã hội; như các sản phẩm chế biến: dệt may, giày dép, đồ gỗ, sản phẩm nhựa, dây cáp điện… Rà soát và phát hiện các mặt hàng có khả năng sản xuất nhưng không hoặc chưa bị hạn chế về thị trường, như đồ nhựa các loại, sản phẩm cơ khí và vali, túi xách, mũ…

    Đẩy mạnh xúc tiến thương mại, xúc tiến doanh nghiệp, tìm kiếm và mở rộng thị trường; đẩy mạnh đầu tư sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng có tiềm năng phát triển không bị hạn chế về khả năng sản xuất, sử dụng nhiều nguyên liệu trong nước; như hàng thủ công mỹ nghệ, sản phẩm cao su, thực phẩm chế biến, hóa mỹ phẩm, sản phẩm cơ khí, dịch vụ phần mềm…

    - Đẩy mạnh xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường được coi là yếu tố quan trọng hàng đầu cho xuất khẩu trong thời điểm này. Chúng ta đã thực hiện việc này như thế nào?

    - Để thực hiện tốt việc này, chúng ta tiếp tục quán triệt phương châm đa phương hóa và đa dạng hóa thị trường; tập trung thúc đẩy hoạt động xúc tiến thương mại theo phương thức tập trung hỗ trợ trực tiếp cho các mặt hàng và các hợp đồng xuất khẩu lớn; quan tâm đến các thị trường lớn, truyền thống lẫn các thị trường tiềm năng như Bắc Phi, Trung Đông, Mỹ La-tinh ở cả cấp Chính phủ và doanh nghiệp. Phát triển các thị trường có chung đường biên giới với Việt thông qua việc xem xét điều chỉnh những quy định không phù hợp làm hạn chế xuất khẩu thời gian qua.

    Kêu gọi và thu hút các tập đoàn lớn nước ngoài đầu tư sản xuất hàng xuất khẩu tại Việt . Nghiên cứu, xem xét việc hỗ trợ các doanh nghiệp xuất khẩu thông qua hình thức thuê kho ngoại quan ở nước ngoài cho các doanh nghiệp Việt Nam gửi hàng và bán trực tiếp cho doanh nghiệp nhập khẩu, phân phối của các thị trường ở châu Phi, Trung Đông, Nam Mỹ và một số nước khác. Mục đích là nhằm giúp hàng hóa của nước ta có cơ hội thâm nhập trực tiếp vào các thị trường này và giảm thiểu các rủi ro về thanh toán. Cụ thể là: Phê duyệt Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia đợt I cho một số hiệp hội, doanh nghiệp; trong đó ưu tiên cho doanh nghiệp tham gia một số hội chợ quan trọng để tạo điều kiện cho họ gặp gỡ trực tiếp các nhà nhập khẩu, xúc tiến việc bán hàng, ký kết hợp đồng; triển khai thực hiện Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện ASEAN-Nhật Bản (AJCEP) chính thức có hiệu lực từ ngày 1-12-2008 và Hiệp định Đối tác kinh tế giữa Việt Nam và Nhật Bản ký ngày 25-12-2008.

    Tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp

    - Trong một cuộc trả lời phỏng vấn báo chí, Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng cho biết đang phối hợp với Bộ Tài chính để tạo một cơ chế thưởng trực tiếp cho các doanh nghiệp làm tốt công tác xuất khẩu. Xin Thứ trưởng cho biết về những cơ chế hỗ trợ xuất khẩu của Bộ? Có một băn khoăn là không hiểu như vậy có vi phạm cam kết WTO?

    - Ngoài những biện pháp đã và đang được triển khai theo tinh thần Nghị quyết số 30/2008/NQ-CP ngày 11-12-2009 của Chính phủ về những giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng, bảo đảm an sinh xã hội, Bộ Công Thương đang phối hợp với Bộ Tài chính và các bộ, ngành nghiên cứu, triển khai các hình thức hỗ trợ doanh nghiệp không trái với quy định WTO. Đó là hình thức bảo hiểm tín dụng xuất khẩu, cho triển khai xây dựng các trung tâm cung ứng nguyên, phụ liệu, xây dựng các cơ sở hạ tầng, chuyển giao công nghệ phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu.

    - Khi thị trường cạnh tranh gay gắt thì thông tin thị trường là vấn đề “sống còn” đối với doanh nghiệp. Thế nhưng, vấn đề cung cấp thông tin, dự báo thị trường vẫn là khâu yếu của chúng ta. Thời gian tới đây, Bộ Công Thương có những hoạt động gì để nâng cao chất lượng thông tin, dự báo thị trường giúp doanh nghiệp?

    - Để công tác dự báo xuất khẩu đạt hiệu quả, Bộ Công Thương đã tổ chức các hệ thống thu thập thông tin trong và ngoài nước, có những tổ chức, cơ quan trực thuộc như Trung tâm thông tin, các viện nghiên cứu… chuyên làm công tác nghiên cứu tình hình kinh tế trong và ngoài nước để vừa tham mưu giúp các cơ quan chức năng xây dựng kế hoạch, vừa thông tin trên các báo, tạp chí và các trang thông tin điện tử. Hiện tại, Bộ cũng đang triển khai công tác thu thập thông tin, xây dựng hệ thống cảnh báo sớm. Bộ cũng đã chỉ đạo các Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài đánh giá nhu cầu tiêu thụ, giá cả hàng xuất khẩu, phối hợp với các cơ quan nước sở tại kịp thời giải quyết các vướng mắc nảy sinh, tiếp tục đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại để các doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận, tìm kiếm thông tin và bạn hàng… Bộ cũng giao Trung tâm thông tin lập hệ thống thu thập thông tin thị trường trong nước của các ngành hàng, đầu tư mua thông tin chuyên ngành, tin tức kinh tế, tài chính của các hãng tin lớn trên thế giới. Việc này đã được tiến hành và sẽ được đẩy mạnh để đạt hiệu quả cao hơn.

    Các doanh nghiệp xuất khẩu cần tăng cường tiếp cận các nguồn thông tin, nâng cao năng lực tự thu thập và xử lý thông tin, tích cực tham gia các chương trình xúc tiến thương mại, hội chợ triển lãm ở nước ngoài.

    Nên cân bằng trong tỷ giá ngoại tệ

    - Giá cả hàng hóa là vấn đề rất quan trọng trong thời khủng hoảng kinh tế, người tiêu dùng hạn chế chi tiêu. Để tạo thuận lợi cho hàng xuất khẩu, nhiều chuyên gia đã đề cập tới vấn đề nới lỏng hơn nữa biên độ tỷ giá giữa VNĐ và USD. Thực tế, một số nước đã “phá giá” nội tệ để hỗ trợ hàng xuất khẩu. Ý kiến của đồng chí về vấn đề này như thế nào?

    - Chính phủ đã chỉ rõ sẽ điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, hiệu quả; điều chỉnh linh hoạt tỷ giá ngoại tệ theo tín hiệu thị trường, khuyến khích xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu, ổn định kinh tế vĩ mô, phấn đấu điều hành cán cân thanh toán quốc tế theo hướng không để thâm hụt.

    Ngày 10-2-2009, Phó thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Nguyễn Văn Bình đã chuyển tải thông điệp về định hướng điều hành tỷ giá năm 2009. Theo đó, thực hiện Nghị quyết số 30/2008/NQ-CP ngày 11-12-2008 của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước đã điều chỉnh tỷ giá bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng áp dụng từ ngày 25- 12-2008 lên mức 16.989 đồng/USD. Mặt bằng tỷ giá này góp phần hỗ trợ xuất khẩu, kiểm soát nhập siêu và bảo đảm sự bền vững của cán cân thanh toán quốc tế, đồng thời hạn chế tâm lý kỳ vọng tỷ giá sẽ tăng cao, tạo điều kiện cho doanh nghiệp chủ động xây dựng phương án sản xuất- kinh doanh ổn định. Ngân hàng Nhà nước sẽ áp dụng các biện pháp cần thiết để giữ ổn định mức tỷ giá này. Mục tiêu điều hành chính sách tỷ giá trong năm 2009 là ổn định để tạo lòng tin về chính sách cho thị trường, góp phần khôi phục sự ổn định kinh tế vĩ mô, chủ động ngăn chặn suy giảm kinh tế.

    - Tạo cơ chế thông thoáng, đẩy mạnh cải cách hành chính trong lĩnh vực xuất khẩu là một biện pháp kích cầu, giúp việc xuất khẩu đạt mục tiêu đề ra. Theo đồng chí, nên tạo ra những cơ chế nào, cải cách những thủ tục hành chính nào để tạo thuận lợi cho xuất khẩu?

    - Chính phủ đã chỉ đạo cải cách thủ tục xuất, nhập khẩu, rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa, đơn giản hóa thủ tục hoàn thuế, quyết toán thuế đối với nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất, gia công hàng xuất khẩu. Hiện tại, Bộ Tài chính đang phối hợp với Bộ Công Thương và các cơ quan liên quan triển khai thực hiện các nhiệm vụ này.

    Theo tôi, cần chủ động rà soát và điều chỉnh những cơ chế chính sách chưa phù hợp theo hướng mở; không tăng thuế nhập khẩu các mặt hàng là đầu vào sản xuất nói chung và xuất khẩu nói riêng; tạo điều kiện cho doanh nghiệp tận dụng cơ hội giảm giá do suy thoái của thị trường thế giới tạo mặt bằng chung với thị trường thế giới và kích thích sản xuất, tiêu dùng.

    - Xin cảm ơn đồng chí.

    HỒ QUANG PHƯƠNG (thực hiện)

    host

    Ý kiến bạn đọc

    0 bình luận
    Đang tải reCAPTCHA...