Đó là lời nhận định của Tiến sĩ Xu-xan Bây-li, Giảng viên Khoa Nhân văn xã hội, Trường đại học Cambridge, Anh, trong buổi trò chuyện trên đài BBC mới đây về tác phẩm mới nhất của bà mang tên “Những tiếng nói châu Á thời kỳ hậu thuộc địa: Việt Nam, Ấn Độ và xa hơn” do NXB Đại học Cambridge ấn hành...
Đó là lời nhận định của Tiến sĩ Xu-xan Bây-li, Giảng viên Khoa Nhân văn xã hội, Trường đại học Cambridge, Anh, trong buổi trò chuyện trên đài BBC mới đây về tác phẩm mới nhất của bà mang tên “Những tiếng nói châu Á thời kỳ hậu thuộc địa: Việt Nam, Ấn Độ và xa hơn” do NXB Đại học Cambridge ấn hành. Xin giới thiệu với bạn đọc nội dung buổi trò chuyện này.
Cuốn sách là kết quả nghiên cứu mà tôi thực hiện sau nhiều chuyến thăm thú vị đến Hà Nội và các vùng lân cận trong 7 năm qua. Tâm điểm của tác phẩm nói về ký ức của người Hà Nội trước những đổi thay và biến động lớn ở Việt suốt 50 năm qua.
![]() |
|
Tiến sĩ Bây-li tại một cuộc hội thảo tại Việt . Ảnh: Socanth.cam.ac.uk |
Một phần quan trọng trong cuốn sách nói về thành tựu của những phụ nữ trí thức của Hà Nội. Đa số họ có mẹ hoặc bà là những người đầu tiên trong gia đình được hưởng nền học vấn hiện đại. Một số người đã về hưu sau thời gian phục vụ trong quân đội, đặc biệt là ngành quân y. Nhiều người đã học để trở thành nhà khoa học, kỹ sư, giáo viên ở Ba Lan, Ru-ma-ni và Liên Xô… Nhưng ngay cả khi xa nhà, tất cả đều nói rằng, họ tìm cách để duy trì quan hệ nồng ấm với gia đình ở Hà Nội. Họ trao đổi thư từ, ảnh của gia đình, và dùng ngân sách eo hẹp để gửi những món đồ, mà vào thời kỳ trước Đổi mới còn quý hiếm, về nhà. Tôi thường được nghe rằng, chính nhờ sự kiên cường của những phụ nữ mạnh mẽ và tận tụy này mà gia đình họ có thể bươn chải để vượt qua nhiều thử thách trong giai đoạn trong chiến tranh và sau chiến tranh. Vì thế, khi tôi trông thấy những bước ảnh từ thập niên 80 của thế kỷ trước chụp nhiều em bé Hà Nội ôm búp bê Nga, mặc áo khoác mùa đông của Đức, tôi nhận ra mình đang trông thấy những bảo vật gợi lại ký ức mạnh mẽ về đời sống xã hội chủ nghĩa quốc tế của 30, 40 năm về trước. Đồng thời, tôi cũng nhận ra mình đang trông thấy bằng chứng về tình thương yêu mà người ta còn nhớ về những năm chia ly và khó khăn. Những phẩm chất ấy vẫn còn hiện hữu trong đời sống gia đình Hà Nội hôm nay.
Những người Hà Nội từng làm việc cùng tôi đã kể cho tôi nghe những kỷ niệm sâu sắc khi họ là những cán bộ văn hóa Việt Minh sau chiến thắng Điện Biên Phủ. Tôi rất quan tâm những cố gắng của một số người khi họ bảo vệ những “tài nguyên” văn hóa như thư viện nhỏ trong làng, các phòng đọc sách để chúng không bị quân Pháp làm hư hại hay cướp phá trong lúc rút chạy. Người Hà Nội cũng kể nhiều về những giáo viên tận tụy nuôi dưỡng tài năng trẻ tại trường Mỹ thuật Việt Bắc. Một điểm son trong nghiên cứu của tôi là khi gặp bà Vũ Giáng Hương, 70 tuổi, một họa sĩ chiến trường. Thật vinh dự cho tôi là bà Hương đã cho phép tôi dùng một bức tự họa rất đẹp của bà, vẽ năm 1998, làm trang bìa cho cuốn sách này...
Những điều mà tôi đã gặp ở Hà Nội trong những ngày qua đã cho tôi cảm giác hy vọng và lạc quan rằng, di sản học vấn, dạy dỗ của gia đình sẽ tiếp tục được xem là tài sản quý của dân tộc Việt Nam, là điểm tham khảo được người sau trân trọng và phát triển, trong khi Chính phủ đang đề ra những chiến lược để thích nghi với thế giới đang thay đổi nhanh chóng.
LINH OANH (giới thiệu)
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận