QĐND - Sự vĩ đại của Nen-xơn Man-đê-la không dựa trên hơn hai thập kỷ đằng đẵng lao tù, mà ở cách ông để lại những cay đắng phía sau cánh cửa nhà tù để hàn gắn một đất nước Nam Phi đầy chia rẽ bằng ngọn lửa hy vọng bất diệt, hun đúc nên một lý tưởng vĩ đại còn sáng mãi với thời gian...
QĐND - Sự vĩ đại của Nen-xơn Man-đê-la không dựa trên hơn hai thập kỷ đằng đẵng lao tù, mà ở cách ông để lại những cay đắng phía sau cánh cửa nhà tù để hàn gắn một đất nước Nam Phi đầy chia rẽ bằng ngọn lửa hy vọng bất diệt, hun đúc nên một lý tưởng vĩ đại còn sáng mãi với thời gian. Đáp lại những hy sinh và nỗ lực kiến tạo hòa bình không mệt mỏi của N.Man-đê-la, cả thế giới đã công nhận ông là cha đẻ của Quốc gia Cầu Vồng, biểu tượng của sự hòa giải.
Ý chí kiên định
Nam Phi trong thập niên 1980 là những năm đầy bạo động. Mặc dù bản thân N.Man-đê-la và nhiều cấp chỉ huy cánh vũ trang của ANC (viết tắt là MK) bị tù hay lưu đày nhưng cuộc đấu tranh bằng các phương tiện vũ trang chẳng những không giảm bớt mà ngày càng tăng. Xung đột giữa hai bên ngày càng gay gắt, máu của nhân dân Nam Phi cũng theo đó mà đổ xuống ngày một nhiều.
Trong thời gian bị giam cầm trong ngục tù, hằng đêm N.Man-đê-la đều trăn trở với những câu hỏi: “Làm sao để Nam Phi tìm lại được hòa bình? Làm sao hàn gắn những rạn nứt, chia cắt trong lòng dân tộc? Làm sao để biến giấc mơ của ông về một xã hội công bằng cho tất mọi người thành hiện thực”? Và mỗi lần suy nghĩ về những câu hỏi như thế, trong nhận thức của N.Man-đê-la lại vọng lên câu nói cuối cùng vào buổi sáng ngày 11-6-1964 tại phiên tòa Rivonia nơi ông đối mặt với bản án tử hình: “Tôi cống hiến cuộc đời mình cho cuộc tranh đấu của nhân dân Nam Phi. Tôi đấu tranh chống sự thống trị da trắng và cũng đấu tranh chống sự thống trị da đen. Tôi ôm ấp lý tưởng về một xã hội tự do và dân chủ, trong đó con người sống hòa thuận và có cơ hội bình đẳng. Đó là lý tưởng tôi hy vọng sống và hoàn thành. Nhưng nếu cần, tôi cũng sẵn sàng chết vì lý tưởng của mình”. Và ông đã kiên định như thế cho tới khi được thả tự do.
![]() |
|
N.Man-đê-la và Tổng thống F. W Clếch nhận giải Nô-ben Hòa bình năm 1993. Ảnh: cnn.com |
![]() |
|
Nhóm nhà báo Việt Nam chụp ảnh lưu niệm trước khu nhà N.Man-đê-la tại Nam Phi. Ảnh: KIM THANH |
Vị cha đẻ của Quốc gia Cầu Vồng
Ra tù với thân thể rệu rã và thương tật, nhiều người tưởng rằng, N.Man-đê-la sẽ bằng lòng với một cuộc sống an nhàn mà ông chưa bao giờ có được. Nhưng không, ông vẫn tiếp tục đấu tranh vì những người da đen bị phân biệt đối xử trong xã hội. Tháng 7-1991, Đại hội dân tộc Phi (ANC) đã họp, bầu N.Man-đê-la làm Chủ tịch. Từ đây, ông đã dấn thân vào những cuộc thương thuyết đầy sóng gió và đóng vai trò lãnh đạo trong việc dẫn dắt đất nước chia rẽ đi từ thời kỳ A-pác-thai đến một nền dân chủ đa sắc tộc. Đôi lúc, những cuộc thương thuyết tưởng chừng như đã đổ vỡ, với đỉnh điểm là vụ ám sát Chrít Ha-ni (Chris Hani), một lãnh tụ ANC vào tháng 4-1993. Hơn 70 người đã thiệt mạng trong các vụ bạo lực bùng phát sau vụ ám sát. Đối mặt với tình huống khó khăn, N.Man-đê-la lại chỉ nhẹ nhàng mà nói rằng: “Có một bài học tôi rút ra được khi thương thuyết là để thay đổi người khác, trước tiên chính bản thân tôi phải thay đổi”.
Sau đó, ông đã đàm phán một cách khôn khéo với Tổng thống F. W Clếch về việc xóa bỏ chế độ phân biệt chủng tộc hà khắc bậc nhất trong lịch sử nhân loại và chuyển giao hòa bình sang chế độ dân chủ đa chủng tộc. Với những nỗ lực bền bỉ của N.Man-đê-la và Tổng thống F. W Clếch - người đã cùng ông nhận giải Nô-ben Hòa bình vào năm 1993, chưa đầy hai tháng sau vụ ám sát ông Ha-ni, cuộc thương thuyết giữa ANC và chính phủ của người da trắng đã đi đến một thỏa thuận định ra ngày diễn ra cuộc tổng tuyển cử đa sắc tộc đầu tiên trong lịch sử Nam Phi vào ngày 27-4-1994. Trước áp lực đấu tranh của người da màu, Hiến pháp của Nam Phi cũng đã chính thức xóa bỏ chế độ phân biệt chủng tộc tháng 11-1993. Một chặng đường mới tươi sáng cho dân tộc Nam Phi chính thức được mở ra.
Tổng thư ký LHQ Ban Ki-mun (Ban Ki-moon) từng nói, N.Man-đê-la luôn tự cho mình là một người bình thường, nhưng trên thực tế, ông đã làm được những điều hết sức phi thường. Đó chính là một trong những lý do khiến ông được hàng triệu người, không chỉ ở quê hương Nam Phi mà còn ở khắp nơi trên thế giới yêu mến và kính trọng. Từ một người tù dưới chế độ A-pác-thai ông đã giành thắng lợi vang dội trong cuộc tổng tuyển cử dân chủ đầu tiên trong lịch sử Nam Phi năm 1994, chiếm 62,65% phiếu bầu, trở thành vị tổng thống da đen đầu tiên ở Nam Phi vào ngày 10-5-1994.
Dưới sự điều hành của chính phủ Man-đê-la, năm 1994 Nam Phi công bố chính sách y tế miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi và phụ nữ có thai. 5 năm sau đó, ANC thông báo 3 triệu người đã có đường dây điện thoại, 1,5 triệu trẻ em có trường học, 500 bệnh viện được xây. Đạo luật cải cách ruộng đất 1994 cho phép người dân đòi lại quyền sở hữu đất đai bị tước đoạt dưới thời phân biệt chủng tộc. Những điều mà N.Man-đê-la đã làm trong suốt sự nghiệp đã góp phần không nhỏ đưa Nam Phi trở thành quốc gia phát triển nhất lục địa đen hiện nay. Thậm chí, Nam Phi còn thường được gọi với cái tên "Quốc gia Cầu Vồng", một thuật ngữ được sử dụng để miêu tả sự đa dạng văn hóa mới phát triển sau khi tư tưởng phân biệt chủng tộc A-pác-thai bị bãi bỏ.
Biểu tượng của lòng nhân hậu, bác ái
Sau một đời đấu tranh chính trị không mệt mỏi, bị tù đày, bị thương tật rồi được bầu làm tổng thống trong vinh quang, N.Man-đê-la cuối cùng đã trao lại quyền lực cho người phó của mình là Mơ-bê-ki (Mbeki) vào năm 1999, còn bản thân thì tiếp tục đóng vai trò tích cực trong nhiều tổ chức xã hội và vì quyền con người. Ông ủng hộ phong trào “Biến đói nghèo thành dĩ vãng” (Make Poverty History), ủng hộ cho Làng trẻ SOS, chiến dịch phòng, chống HIV/AIDS - căn bệnh mà đến hơn 11% dân chúng Nam Phi mắc phải. Khi còn làm tổng thống, ông luôn dành một phần ba số lương hằng năm cho quỹ từ thiện Nelson Mandela Children’s Fund do chính ông sáng lập vào năm 1995. Ông đã sớm trở thành biểu tượng của lòng nhân hậu, vị tha và bác ái không chỉ của quốc gia Nam Phi mà còn của nhân dân yêu chuộng hòa bình và bình đẳng trên khắp thế giới.
Với những thành công trong nước và cả những hoạt động trên trường quốc tế, N.Man-đê-la đã gây được sự tín nhiệm và sự kính phục rất cao của bạn bè khắp năm châu. Ông thường xuyên được mời tham gia giải quyết các vụ tranh chấp lịch sử, điển hình là vụ xử Lockerbie, hay thuyết phục Tổng thống Dim-ba-bu-ê - R.Mu-ga-bê (R.Mugabe) từ bỏ quyền hành trong danh dự năm 2007. Ghi nhận những nỗ lực của ông, năm 2009 LHQ tuyên bố lấy ngày 18-7 - sinh nhật của ông - làm ngày công tác phục vụ cộng đồng trên toàn thế giới, thường được gọi là Ngày Quốc tế Nen-xơn Man-đê-la (Nelson Mandela International Day).
Riêng đối với người dân Việt Nam, N.Man-đê-la không chỉ là một nhà lãnh đạo tài giỏi nổi tiếng thế giới, mà ông còn là một huyền thoại, một người bạn lớn, là thần tượng của nhiều thế hệ người dân Việt Nam. Còn nhớ, hàng triệu người dân Việt Nam đã luôn ủng hộ cuộc đấu tranh của ông cùng nhân dân Nam Phi chống chế độ phân biệt chủng tộc A-pác-thai. Và ngược lại, đối với nhà lãnh đạo Nam Phi này, Việt Nam cũng luôn ở trong trái tim ông. Những tình cảm cao đẹp của ông dành cho Việt Nam theo dòng chảy của tháng năm lịch sử đã giúp gắn kết hai đất nước và cùng ông đi đến những năm tháng cuối cùng của cuộc đời. "Việt Nam luôn ở trong trái tim tôi. Chủ tịch Hồ Chí Minh và con đường mòn mang tên Người, cùng sự nghiệp giải phóng đất nước Việt Nam luôn để lại ấn tượng sâu sắc đối với cá nhân tôi", Tổng thống N.Man-đê-la từng nói.
NGỌC THƯ
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận