Ngày 18-6, Bộ Ngoại giao Trung Quốc và Bộ Ngoại giao Nhật Bản đã chính thức công bố thỏa thuận đạt được giữa hai bên về quyền khai thác khí đốt ở Biển Hoa Đông...
![]() |
| Giàn khoan của Trung Quốc trên biển Hoa Đông. Ảnh: AFP |
Ngày 18-6, Bộ Ngoại giao Trung Quốc và Bộ Ngoại giao Nhật Bản đã chính thức công bố thỏa thuận đạt được giữa hai bên về quyền khai thác khí đốt ở Biển Hoa Đông. Đây có thể được coi là “quả ngọt” từ chuyến thăm “mùa xuân ấm áp” của Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào đến Nhật Bản hồi tháng 5 vừa qua.
Theo thỏa thuận trên, hai bên nhất trí cùng khai thác hai mỏ khí đốt ở Biển Hoa Đông là Xuân Hiểu (tên Nhật Bản là Si-ra-ca-ba), cách giới tuyến do Nhật Bản xác định vài hải lý về phía Tây, và Long Tỉnh (tên Nhật Bản là A-xư-na-rô), nằm ở khu vực phía Bắc. Nhật Bản sẽ đầu tư dự án khai thác mỏ khí Xuân Hiểu và được hưởng lợi nhuận theo tỷ lệ căn cứ vào mức độ đóng góp tài chính. Tại dự án khai thác mỏ khí Long Tỉnh, dự kiến được thực hiện trong tương lai, hai bên sẽ chia đều chi phí khai thác và lợi nhuận. Đây là thỏa thuận đầu tiên giữa Nhật Bản và Trung Quốc về quyền sở hữu và khai thác các nguồn lợi dưới đáy biển.
Thỏa thuận này dọn đường cho sự hợp tác hơn nữa trong tương lai giữa hai nền kinh tế hàng đầu châu Á đang có nhu cầu nhập khẩu dầu mỏ ngày một tăng. Quan trọng hơn là về cơ bản nó đã giải quyết được một trong những vấn đề nhức nhối nhất trong quan hệ giữa Bắc Kinh – Tô-ki-ô. Cùng với việc tàu khu trục Sazanami của hải quân Nhật Bản rời cảng Ku-rê ngày 19-6 để thực hiện chuyến thăm đầu tiên của một chiến hạm nước này tới Trung Quốc kể từ Thế chiến II, có thể khẳng định quan hệ Trung – Nhật đã bước qua thời “kinh tế nóng, chính trị lạnh”.
Quan hệ Trung – Nhật có được sự nồng ấm như ngày hôm nay xuất phát từ sự nỗ lực, nhu cầu nội tại của cả hai bên. Chuyến thăm lịch sử của Chủ tịch Hồ Cẩm Đào được thực hiện sau chuyến thăm "phá băng" của cựu Thủ tướng Nhật Bản Sin-dô A-bê tháng 10-2006 và chuyến thăm "tan băng" của Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo tháng 4-2007. Tháng 12 năm ngoái, Thủ tướng Phư-cư-đa cũng đã đến Trung Quốc trong chuyến thăm “báo trước mùa xuân”.
Gần 3 thập kỷ qua, trong khi Trung Quốc trỗi dậy làm nên “kỳ tích châu Á”, thì người Nhật cũng kịp đổ vào nước này 53 tỷ USD đầu tư cùng hàng tỷ USD viện trợ phát triển để giúp các tập đoàn, công ty hàng đầu của Nhật chiếm lĩnh thị trường lớn nhất toàn cầu này. Trao đổi thương mại song phương nhờ đó đã tăng tốc, từ 1,1 tỷ USD năm 1972 lên 236 tỷ USD năm 2007, đưa Trung Quốc vượt qua Mỹ trở thành bạn hàng lớn nhất của Nhật Bản. Nếu như Bắc Kinh cần nguồn vốn đầu tư và công nghệ tiên tiến của Nhật, thì Tô-ki-ô lại ngày càng phụ thuộc vào thị trường láng giềng này.
Trong bối cảnh kinh tế thế giới đầy rẫy những biến động khó lường như hiện nay, hai “đại gia” châu Á đã nhận thức rõ rằng, cần nhanh chóng tìm đến với nhau một cách toàn diện nhất. Mọi khúc mắc về chính trị phải sớm được giải quyết để không trở thành rào cản đáng tiếc. Thực tế, mỗi rung động chính trị dù rất nhỏ, cũng có thể tạo ra những cơn sóng lớn tàn phá các mối quan hệ kinh tế. Còn nhớ rằng, căng thẳng giữa hai nước do các tranh cãi về lịch sử liên quan đến tội ác của phát-xít Nhật với người dân Trung Quốc trong Chiến tranh thế giới thứ hai đã làm tốc độ gia tăng trao đổi thương mại Trung – Nhật trong năm 2005 và 2006 chỉ bằng một nửa so với các đối tác thương mại khác của hai nước.
Quan hệ ấm áp sẽ khiến dòng đầu tư từ Nhật Bản chảy mạnh mẽ vào Trung Quốc hơn, giúp cho nền kinh tế nước này duy trì tốc độ tăng trưởng đứng đầu toàn cầu. Các nhà sản xuất Nhật Bản thì vững tâm kiếm lời trên thị trường thuộc loại hấp dẫn nhất thế giới này, khép lại quá khứ ảm đạm khi hàng hoá của Nhật ở Trung Quốc bị tẩy chay bởi làn sóng phản đối thái độ của Tô-ki-ô trong các vấn đề lịch sử. Như vậy, cả Nhật Bản và Trung Quốc đã có sẵn “thuốc” trong tay phòng khi nền kinh tế Mỹ lâm “trọng bệnh”./.
ĐẶNG NGUYỄN
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận