Thứ Sáu, 19/10/2012, 13:29

    "Hận Khâu Vác” - Bài học kinh nghiệm sâu sắc đối với công tác hậu cần

    Sau khi mở các chiến dịch tiến công địch trên hướng trung du và đồng bằng chưa đạt kết quả như mong muốn do địch bố trí quân đông, hoả lực mạnh, nơi không phát huy được cách đánh sở trường của ta. Vì vậy, tháng 4 năm 1952, Tổng Quân ủy, Bộ Tổng Tư lệnh gấp rút chuẩn bị chiến dịch tiến công địch trên chiến trường Tây Bắc. Đây là địa bàn chiến lược quan trọng nhưng địch sơ hở, chủ quan. Mục tiêu chi

    Sau khi mở các chiến dịch tiến công địch trên hướng trung du và đồng bằng chưa đạt kết quả như mong muốn do địch bố trí quân đông, hoả lực mạnh, nơi không phát huy được cách đánh sở trường của ta. Vì vậy, tháng 4 năm 1952, Tổng Quân ủy, Bộ Tổng Tư lệnh gấp rút chuẩn bị chiến dịch tiến công địch trên chiến trường Tây Bắc. Đây là địa bàn chiến lược quan trọng nhưng địch sơ hở, chủ quan. Mục tiêu chiến dịch nhằm tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng đất đai, mở rộng vùng tự do, củng cố căn cứ địa Việt Bắc, tạo điều kiện cho Mặt trận Thượng Lào hoạt động mạnh.

    Chiến dịch diễn ra ba đợt: Đợt 1 (từ ngày 14 đến 23-10-1952) ta tiến công phân khu Nghĩa Lộ, tiểu khu Phù Yên tiêu diệt và bức rút hàng loạt cứ điểm (Ca Vịnh, Sài Lương, Pú Chạng, Nghĩa Lộ). Đợt 2 (từ 7 đến 22-11-1952) ta vượt Sông Đà tiến công hệ thống phòng ngự của địch trên cao nguyên Mộc Châu kết hợp vu hồi chiến dịch từ Quỳnh Nhai giải phóng Thuận Châu, Tuần Giáo, Điện Biên phủ, buộc địch ở thị xã Sơn La rút chạy về Nà Sản. Đợt 3 (từ 30-11 đến 10-12-1952) sau nhiều lần tập trung lực lượng tiêu diệt địch ở Nà Sản không thành công, ta chủ động kết thúc chiến dịch.

    Kết quả, ta đã tiêu diệt và bắt sống hơn 6.000 địch, giải phóng một vùng rộng lớn ở địa bàn chiến lược quan trọng nối liền vùng giải phóng Tây Bắc với căn cứ địa Việt Bắc và Thượng Lào. Trong chiến dịch này, ta đã huy động được trên 10.000 tấn lương thực, thực phẩm; 191.000 lượt dân công. Kết quả bảo đảm được 9.360 tấn gạo, 164 tấn muối, 195 tấn thịt (không tính số thực phẩm các đơn vị khai thác tại chỗ), 33 tấn đạn; cứu chữa 2.535 thương bệnh binh.

    Chiến dịch Tây Bắc là chiến dịch có quy mô lớn, thời gian diễn ra dài ở chiến trường rừng núi, xa căn cứ hậu phương, hệ thống đường sá hầu như chưa có nên công tác bảo đảm hậu cần gặp rất nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, việc nghiên cứu chuẩn bị chiến trường của cơ quan tham mưu kế hoạch hậu cần và vận tải chưa chu đáo; công tác chỉ huy chỉ đạo còn chủ quan, thiếu kiểm tra đôn đốc, không xử trí kịp thời các diễn biến... dẫn đến nhiều mặt công tác hậu cần đạt thấp. Đặc biệt, trong đợt 1 của chiến dịch, công tác hậu cần không hoàn thành nhiệm vụ trên tuyến vận tải Mậu A - Khâu Vác - Nậm Mười, vật chất hậu cần vận chuyển đến điểm tập kết chậm hơn quy định, không kịp đáp ứng nhu cầu cho bộ đội, làm ảnh hưởng đến kế hoạch tác chiến.

    Diễn biến ở tuyến vận tải Khâu Vác cụ thể như sau: Đêm 10 và 11-10-1952 các đơn vị bộ đội vượt sông Hồng tiến vào Tây Bắc. Để bảo đảm hậu cần phục vụ bộ đội, trong 3 đêm (12,13,14-10-1952), Tổng cục Tiền phương tổ chức dân công gánh gạo, vũ khí vượt sông và rải trạm chuyển gạo trên 3 đường theo bộ đội tiến vào Nghĩa Lộ. Thời điểm đó, để tổ chức cho 24.840 dân công cùng với hơn 1.100 tấn gạo, đạn dược và trâu, bò vượt sông an toàn trong 3 đêm là một vấn đề rất lớn. Ta tổ chức vượt sông theo 3 khu vực bến: Mậu A, Cổ Phúc và Âu Lâu. Do khâu tổ chức chu đáo, chỉ trong 3 đêm, toàn bộ vật chất và dân công vượt sông Hồng an toàn, không xảy ra thiệt hại gì. Sau khi vượt sông, vận tải tổ chức rải trạm trên 3 tuyến đường tiến vào Nghĩa Lộ. Đường Mậu A - Nậm Mười qua Khâu Vác là đường chính, lực lượng vận tải rải thành 7 trạm, dùng 13.000 dân công để chuyển hơn 800 tấn gạo vào Nghĩa Lộ (gồm 440 tấn cho bộ đội phía trước và 360 tấn cho dân công ăn dọc đường). Đường Cổ Phúc - Sài Lương rải 3 trạm, sử dụng hơn 1.000 dân công để chuyển 136 tấn gạo (101 tấn cho bộ đội, 35 tấn dân công ăn dọc đường). Đường Yên Bái - Ca Vịnh - Ba Khe rải 3 trạm, dùng 12.000 dân công để chuyển 724 tấn gạo (290 tấn cho bộ đội, 430 tấn cho dân công ăn dọc đường).

    Việc tiến hành rải trạm và chuyển gạo trên tuyến Yên Bái- Âu Lâu- Ba Khe thực hiện tốt vì đường đi lớn, bằng phẳng và ở gần Tổng cục Tiền phương. Còn 2 tuyến Khâu Vác và Sài Lương không hoàn thành nhiệm vụ, nhất là tuyến Khâu Vác là tuyến chính bảo đảm gạo cho tấn công Nghĩa Lộ. Nguyên nhân do đường Mậu A qua Khâu Vác vào Nậm Mười và đường Cổ Phúc vào Sài Lương là đường mòn trong rừng, hẹp phải qua nhiều đèo cao, suối sâu nước chảy xiết; có những đoạn đèo cao dốc tới 40-50 độ, có suối phải lội qua hàng giờ. Trong khi đó lại đang vào mùa mưa nên đường rất trơn và lầy lội, tốc độ di chuyển rất chậm, có đêm chỉ đi được 4 km.

    Theo kế hoạch vận chuyển đợt đầu, tuyến Khâu Vác phải chuyển được 296 tấn trong vòng 20 ngày, bắt đầu từ ngày 15-10, mỗi ngày vận chuyển 14,8 tấn gạo vào tới kho tiền tuyến giao cho bộ đội, nhưng đến 18-10, gạo mới vào tới nơi. Số lượng gạo giao cho bộ đội ngày nhiều nhất mới được 7 tấn, có ngày 5 tấn, có ngày 0,8 tấn. Do vậy, kết quả vận chuyển đợt đầu chỉ được 83 tấn (bằng 28%), thiếu 213 tấn (bằng 72% kế hoạch). Còn tuyến Cổ Phúc - Sài Lương, kế hoạch đợt đầu phải chuyển 66 tấn, ngày 15-10 phải có gạo và mỗi ngày phải giao 6 tấn. Nhưng ngày 16-10 mới có gạo và mỗi ngày chỉ giao được 3 tấn, cả đợt chỉ chuyển được 40 tấn, thiếu 26 tấn. Không những thế, theo hiệp đồng quy định khi hành quân, bộ đội phải mang theo đủ 8 ngày gạo, nhưng các đơn vị đều không mang đủ. Việc sửa đường cho xe cơ giới cũng không hoàn thành đúng kế hoạch nên không vận chuyển được bằng ô tô. Do đó bộ đội thiếu gạo ăn trầm trọng; kết thúc tiến công đợt 1, bộ đội phải tham gia chuẩn bị lương thực cùng với hậu cần chiến dịch nên kế hoạch tác chiến đợt 2 phải chậm lại so với quy định.

    Từ việc không hoàn thành nhiệm vụ trong công tác bảo đảm hậu cần, rút ra một số bài học sau:

    Thứ nhất, cán bộ hậu cần phải sâu sát, tỉ mỷ, biết lường trước khó khăn khi xây dựng kế hoạch; phân công nhiệm vụ hợp lý.

    Nguyên nhân thất bại ở tuyến Khâu Vác là do việc trinh sát tình hình đường sá, địa hình của cán bộ hậu cần chưa sát thực tế, chưa tỉ mỉ, chưa khảo sát hết đường vận chuyển; chưa dự kiến khi trời mưa, đường trơn, nước suối dâng cao, vượt suối khó khăn; chưa thấy được sự khác biệt giữa việc vận chuyển trên đường trời khô với lúc trời mưa và sự khó khăn khi số lượng lớn dân công qua đèo cao trên đường hẹp. Quá trình rải trạm, cán bộ trực tiếp khảo sát tuyến đường Khâu Vác lại bố trí đi rải trạm trên tuyến Sài Lương. Đây là điều bất hợp lý.

    Thứ hai, chỉ huy hậu cần phải chặt chẽ, kiên quyết; chỉ huy thông suốt đến các tuyến vận chuyển; chấp hành nghiêm chế độ báo cáo.

    Ngay từ khi xuất phát và rải trạm tuyến Khâu Vác đã bị lúng túng và gặp nhiều khó khăn. Hơn 13.000 dân công vào rải trạm trên tuyến đường này bị ùn tắc ngay từ đầu do đường hẹp. Khi gặp trời mưa đường trơn nên đi rất chậm, có đêm chỉ đi được vài ki-lô-mét; có đoạn đường hẹp, dốc đứng, dân công không hạ gánh xuống được phải giữ nguyên trên vai đứng chờ nên rất mệt. Sự phối hợp của các ngành không chặt chẽ nhất là giữa ngành quân nhu với vận tải. Tuy đi cùng một tuyến đường nhưng mỗi ngành lại có sự chỉ đạo riêng. Quân nhu bảo đảm thủ tục giấy tờ cấp phát gạo chậm làm dân công phải chờ đợi lâu. Tinh thần thực hiện kế hoạch của cán bộ vận tải còn kém, không thấy mức độ khẩn trương của tình hình. Khi trời mưa, chỉ huy một số đơn vị tự động cho dân công nghỉ cả ngày. Trước khó khăn, lúng túng ở các trạm, nhưng chỉ huy không phản ánh kịp thời lên Ban chỉ huy tuyến nên sự điều hành của chỉ huy cấp trên không xuống kịp thời cấp dưới.

    Thứ ba, huy động và sử dụng lực lượng dân công, vận tải bộ hợp lý, quan tâm đến đời sống vật chất tinh thần và các chính sách.

    Trong Chiến dịch này, số lượng dân công được huy động rất lớn nhưng sử dụng lãng phí, nhiều sai lầm trong việc bảo đảm chính sách dân công. Các đơn vị sử dụng dân công chưa chú ý chăm sóc đến đời sống và tinh thần, phó mặc cho Ban chỉ huy dân công tự lo liệu nên có lúc  để dân công thiếu muối ăn, không có chỗ ở phải ngủ rừng. Khi dân công ốm đau không có thuốc men chữa trị, vệ sinh phòng bệnh kém. Bên cạnh đó, khí hậu Tây Bắc rét sớm và rét nhiều nhưng không nắm vững tình hình để phổ biến cho dân công. Quá trình làm nhiệm vụ rất vất vả, đời sống dân công kham khổ, thiếu thốn, trời rét không có áo ấm, sức khỏe giảm sút, ốm đau nhiều, tỉ lệ ốm có lúc tới 60%. Song song với công tác bảo đảm đời sống, công tác chính trị tư tưởng đối với dân công còn thiếu sót. Tâm lý của dân công vì lo lắng mùa màng, sợ phải đi lâu, sợ rừng thiêng nước độc, tinh thần có phần giảm sút nên bỏ trốn nhiều.

    Thứ tư, cần huy động nhân lực, vật lực tại chỗ để giảm bớt vật chất vận chuyển từ xa đến.

    Để đáp ứng nhu cầu cho chiến dịch, ta phải huy động sức người, sức của từ Liên khu 3, Liên khu 4 lên bảo đảm cho chiến dịch. Có địa phương cách xa 300-500km trong điều kiện đường sá gồ ghề, phương tiện giao thông chủ yếu đi bộ nên việc vận chuyển rất vất vả, tốn kém. Trong chiến dịch này, ta huy động 5.254 tấn vật chất ở Liên khu 3, Liên khu 4, chuyển lên tới Suối Rút còn 1.395 tấn, lên tới Cò Nòi chỉ còn 410 tấn. Dân công vận chuyển đã ăn hết 92%, tới tay bộ đội chỉ còn 8%. Tuy vậy, với nỗ lực lớn, hậu cần đã huy động ở vùng mới giải phóng 1.140 tấn gạo, 40 tấn thực phẩm, 1.700 dân công. Theo tính toán, huy động 1 tấn gạo ở Tây Bắc có giá trị bằng 12 tấn huy động ở Liên khu 3, Liên khu 4. Ngoài ra, còn giảm được rất nhiều số lượng dân công tham gia vận chuyển.

    Thứ năm, trong vận chuyển cần sử dụng kết hợp giữa phương tiện vận tải  thô sơ sức người với cơ giới, triệt để sử dụng vận tải cơ giới.

    Để vận chuyển cho tiến công Nghĩa Lộ, ta huy động tới 25.000 dân công, trong khi đó hiệu suất vận chuyển của dân công rất thấp. Lượng vật chất dân công tiêu thụ trong quá trình vận chuyển chiếm tỷ trọng rất cao. Do vậy, cần sử dụng phương tiện vận tải thô sơ như: xe trâu, xe bò, xe đạp thồ, thuyền nhỏ đi trên những cung chặng phù hợp. Các phương tiện này có sức tải gấp 5-10 gánh bộ, lại giảm bớt vất vả cho con người, chi phí vận chuyển thấp và giảm được sự ùn tắc trên đường. Bên cạnh đó, cần triệt để phát huy vai trò vận tải xe cơ giới. Từ đợt 2 của chiến dịch, ta sử dụng khá nhiều xe cơ giới (78 xe) kết hợp với vận tải bộ, phượng tiện thô sơ để tham gia vận chuyển ở tuyến sau. Cùng với đó, việc chuẩn bị đường sá, phương tiện và các điều kiện bảo đảm cho xe cơ giới hoạt động tốt đã đem lại hiệu quả cao ở đợt 2 của chiến dịch.

    Những bài học rút ra từ thất bại trong công tác bảo đảm hậu cần trong chiến dịch Tây Bắc đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Thuật ngữ “Hận Khâu Vác” là một nốt trầm trong lịch sử ngành Hậu cần Quân đội, nó nhắc nhở mỗi người cán bộ chỉ huy, cán bộ hậu cần phải luôn lấy đó làm bài học kinh nghiệm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao.  

    Đại tá-PGS-TS Dương Hồng Anh

     

    vietcuong

    Ý kiến bạn đọc

    0 bình luận
    Đang tải reCAPTCHA...