Thứ Bảy, 21/12/2019, 23:32

    Bài thơ hay của dòng thơ bộ đội

    QĐND - Chúng tôi gõ cửa ngôi nhà số 78 Phố Huế (Hà Nội) tìm gặp nhà thơ Yên Thao, mong muốn biết thêm về bài thơ nổi tiếng “Nhà tôi”. Năm nay đã 92 tuổi, không đi lại được nhưng nhà thơ Yên Thao còn minh mẫn để kể cho chúng tôi nhiều câu chuyện thú vị.

    Nhà thơ Yên Thao tên thật là Nguyễn Bảo Thịnh, quê ở “làng khoa bảng” Đông Ngạc, huyện Từ Liêm (nay là quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội). 18 tuổi ông tham gia kháng chiến, theo học Trường Huấn luyện cán bộ Việt Nam (Trường Sĩ quan Lục quân 1 hiện nay). Sau một thời gian ở đơn vị chiến đấu, ông được điều về làm báo, công tác văn nghệ ở Liên khu 3. Sau Ngày giải phóng Thủ đô, ông chuyển sang làm Báo Hànộimới, giữ chức Trưởng ban Bạn đọc cho đến khi về hưu năm 1990.

    Theo lời nhà thơ Yên Thao, bài thơ “Nhà tôi” được sáng tác vào mùa đông năm 1949, khi ông bám theo một đơn vị đánh vào một đồn binh Pháp cạnh sông ở một làng đồi. Trong lúc đợi giờ nổ súng, ông trò chuyện với anh em chiến sĩ và được biết ở đơn vị có một người lính quê ở ngay làng. Phía bên ấy đang còn mẹ và vợ. Người lính lấy vợ được chừng một tháng thì lên đường đi kháng chiến. Trong câu chuyện, mấy lần cậu ta nhắc tới giàn thiên lý của nhà mình. Ông rất thích câu chuyện, cấu tứ để sáng tác bài thơ "Nhà tôi". Bài thơ đăng báo, được cán bộ, chiến sĩ yêu thích, chép tay, truyền miệng rộng khắp. Nhà thơ danh tiếng Xuân Diệu rất thích bài thơ này, có nhắc đến trong tiểu luận viết về thơ bộ đội. Mức độ nổi tiếng của bài thơ “Nhà tôi” có thể thấy khi được in trong nhiều tuyển tập thơ ca cách mạng.

    Minh họa: Phùng Minh.

    Minh họa: Phùng Minh.

    Bài thơ “Nhà tôi” sau đó được phổ nhạc thành bài hát “Chuyện giàn thiên lý” nổi tiếng, nhưng ít người biết ý thơ là của nhà thơ Yên Thao. Thơ với nhạc đúng là có sự tương đồng về tính nhạc, nhưng đây là hai loại hình nghệ thuật khác nhau, có quy luật sáng tạo riêng biệt. Giả dụ không có bài hát thì bài thơ “Nhà tôi” đứng độc lập vẫn có giá trị nghệ thuật, bởi đây là bài thơ tiêu biểu của thơ ca cách mạng thời kỳ chống Pháp nói chung, dòng thơ bộ đội nói riêng.

    Cũng giống như các bài thơ: “Nhớ Bắc” (Huỳnh Văn Nghệ); “Tây Tiến”, “Đôi mắt người Sơn Tây” (Quang Dũng); “Màu tím hoa sim” (Hữu Loan); “Ngày về”, “Đồng chí” (Chính Hữu); “Đất nước”, “Nhớ”, “Không nói” (Nguyễn Đình Thi)…, “Nhà tôi” kế thừa tính lãng mạn của phong trào Thơ mới nên tràn ngập bài thơ là thi ảnh, thi liệu giàu tính trữ tình, như: “Tre, cau buồn tóc rũ ướt mưa sương/ Màu trăng vôi lồm lộp mấy khung tường”. Đặc trưng của tính lãng mạn là đề cao cảm xúc cá nhân, hoài niệm quá khứ, mơ tưởng tương lai tươi đẹp… Thế nên khi người lính trở về làng quê đang bị giặc chiếm, đau xót khi quê hương tươi đẹp bị tàn phá, nhớ thương người vợ, người mẹ cùng những ngày bình yên bên nhau là điều dễ hiểu.

    Điểm khác biệt của dòng thơ bộ đội là tính cá nhân bắt đầu nhường chỗ cho tính sử thi. Vai trò người chồng, người con tạm gác để nổi lên vai trò người lính chiến-nhân vật trung tâm, hình tượng chủ đạo của văn học cách mạng. Người lính gắn với chiến tranh, giết giặc trả nợ nước, thù nhà cho nên nổi bật tính hùng tráng, mạnh mẽ: “Tôi là anh lính chiến/ Theo quân về giải phóng quê hương/ Mái đầu xanh bụi viễn phương/ Bước chân đất đạp xiêu đồn lũy địch”; dồn nén tình cảm riêng tư vì nghĩa lớn, biến đau thương thành hành động: “Em lặng buồn nhìn với lúc chia phôi/ Tôi mạnh bước mà nghe hồn nhỏ lệ”.

    Với nội dung mới, hoàn cảnh xã hội mới, thơ bộ đội thời chống Pháp tất yếu phải có một hình thức mới. Thay vì những câu thơ được đẽo gọt vần điệu, cân xứng hài hòa của phong trào Thơ mới, thơ bộ đội như bài “Nhà tôi” là điển hình thơ tự do, thoải mái độ ngắn-dài câu thơ, kết hợp các thể thơ khác nhau, cốt làm sao diễn tả tâm trạng, tình ý chứ không “chạy theo” vần điệu hay quy phạm: “Tôi còn người mẹ/ Tóc đã ngả màu bông/ Tuổi già non thế kỷ/ Lưng gầy uốn nặng kiếp long đong/ Nắng mưa từ buổi tang chồng/ Tơ tằm rút mãi cho lòng héo hon”. Tính linh hoạt của bài thơ thể hiện rất rõ khi xen lẫn giọng kể chuyện, giọng hỏi, giọng nhắn nhủ: “Anh rót cho khéo nhé/ Kẻo lại nhầm nhà tôi!/ Nhà tôi ở cuối thôn Đồi/ Có giàn thiên lý, có người tôi thương”.

    Những đặc trưng của thơ bộ đội chống Pháp sau đó lại được thế hệ nhà thơ chống Mỹ như: Phạm Tiến Duật, Thanh Thảo, Hoàng Nhuận Cầm, Nguyễn Mỹ, Lê Anh Xuân… tiếp thu, đổi mới khác biệt. Vai trò mở đường của thơ chống Pháp đã được thừa nhận, đặt nền móng phát triển của thơ ca cách mạng. “Nhà tôi” có sự kết hợp tài tình, hài hòa, giàu tính nghệ thuật các yếu tố tưởng chừng đối nghịch, xứng đáng là một trong những bài thơ hay nhất thời chống Pháp, sẽ còn được hậu thế nhắc nhớ.

    HÀM ĐAN

     

    Nhà tôi

    Tôi đứng bên này sông

    Bên kia vùng giặc đóng

    Làng tôi đấy, sạm đen màu tiết đọng

    Tre, cau buồn tóc rũ ướt mưa sương

    Màu trăng vôi lồm lộp mấy khung tường

    Nếp đình xưa người hỡi, đau gì không?

     

    Tôi là anh lính chiến

    Rời quê hương từ dạo máu khơi dòng

    Buông tay gàu vui lại thuở Bình Mông

    Ghì nấc súng nhớ ơi, ngày đắc thắng

    Chân chưa vẹt trên nẻo đường vạn dặm

    Áo nào phai không sót chút màu xưa

    Đêm hôm nay tôi trở về, lành lạnh

    Sông sâu mừng lấp lánh sao lưa thưa

     

    Tôi có người vợ trẻ

    Đẹp như thơ

    Tuổi chớm đôi mươi cưới buổi dâng cờ

    Má trắng mịn thơm thơm mùa lúa chín

    Ai ra đi mà không từng bịn rịn

    Rời yêu thương nào đã mấy ai vui

    Em lặng buồn nhìn với lúc chia phôi

    Tôi mạnh bước mà nghe hồn nhỏ lệ.

     

    Tôi còn người mẹ

    Tóc đã ngả màu bông

    Tuổi già non thế kỷ

    Lưng gầy uốn nặng kiếp long đong

    Nắng mưa từ buổi tang chồng

    Tơ tằm rút mãi cho lòng héo hon

    Ôi, xa xồi, mẹ tôi

    Lệ nhòa mi mắt

    Mong con phương trời

    Có từng chợt tỉnh đêm vơi

    Nghe giòn tiếng súng nhớ lời chia ly:

    - Mẹ ơi, con mẹ tìm đi

    Bao giờ hết giặc, con về mẹ vui.

     

    Đêm hôm nay tôi trở về, lành lạnh

    Sông sâu mừng lấp lánh sao lưa thưa

    Ống quần nâu đã vá mụn giang hồ

    Chắc tay súng tôi về mơ Nguyễn Huệ

    Làng tôi kia, bên trại thù quạnh quẽ

    Trông im lìm như một nấm mồ ma

    Có còn không, em hỡi! Mẹ tôi già!

    Những người thân yêu khóc buổi tôi xa?

     

    Tôi là anh lính chiến

    Theo quân về giải phóng quê hương

    Mái đầu xanh bụi viễn phương

    Bước chân đất đạp xiêu đồn lũy địch.

     

    - Này, anh đồng chí

    Người bạn pháo binh!

    Đã đến giờ chưa nhỉ

    Mà tôi nghe như trại giặc tan tành?

    Anh rót cho khéo nhé

    Kẻo lại nhầm nhà tôi!

    Nhà tôi ở cuối thôn Đồi

    Có giàn thiên lý, có người tôi thương.

    (1949)

    YÊN THAO

    Báo QĐND 7 Phan Đình Phùng - 8 Lý Nam Đế

    Ý kiến bạn đọc

    0 bình luận
    Đang tải reCAPTCHA...