Thứ Tư, 17/01/2007, 18:57

    50 năm, một địa chỉ văn học, một đội ngũ nhà văn cầm bút và cầm súng

    Trong những ngày này, chúng tôi không khỏi bồi hồi nhớ tới các nhà văn, nhà thơ, thế hệ khai sinh đã góp phần làm nên danh hiệu cao quý của tạp chí Văn nghệ Quân đội - Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

    Trong những ngày này, chúng tôi không khỏi bồi hồi nhớ tới các nhà văn, nhà thơ, thế hệ khai sinh đã góp phần làm nên danh hiệu cao quý của tạp chí Văn nghệ Quân đội - Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Đó là các nhà văn Thanh Tịnh, Nguyễn Thi, Nguyễn Minh Châu, Xuân Miễn, Nhị Ca, Duy Khán, Phác Văn, Phùng Quán, Trần Dần, Hà Mậu Nhai, Nguyễn Trọng Oánh, Hải Hồ, Võ Trần Nhã, Thu Bồn, Mai Ngữ; các họa sĩ Hà Trì, Trương Hạnh và trước đó là các nhà văn - liệt sĩ Trần Đăng, Thâm Tâm, Thôi Hữu đã anh dũng hy sinh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

    Nền tảng cho sự xuất hiện của các nhà văn, nhà thơ ấy là một phong trào văn nghệ quần chúng rộng lớn cùng các ấn phẩm văn nghệ như Sinh hoạt văn nghệ của Cục Tuyên huấn, tạp chí Lúa xanh, Mười chín (Liên khu 4), tập Áo xám (Liên khu 5), các sách báo khác ở liên khu, đại đoàn, trung đoàn đã góp phần nuôi dưỡng tinh thần yêu nước cho những người cầm súng trong suốt một thời kháng chiến chống thực dân Pháp. Có thể nói đó là tiền thân của Tạp chí Văn nghệ Quân đội sau này.

    Vào năm 1957, Tổng cục Chính trị đã quyết định xuất bản tạp chí Văn nghệ Quân đội và giao cho tạp chí Văn nghệ Quân đội hai nhiệm vụ cơ bản: Xuất bản tạp chí Văn nghệ Quân đội và sáng tác những tác phẩm về đề tài lực lượng vũ trang và chiến tranh cách mạng. Nhuần nhuyễn hai nhiệm vụ ấy, các nhà văn quân đội đã lên đường tham gia những sự kiện lớn của đất nước dẫn đến sự ra đời của các tác phẩm văn học tiêu biểu: Trăng sáng, Đôi bạn của Nguyễn Ngọc Tấn, Xung đột, Mùa lạc của Nguyễn Khải, Rẻo cao và trước đó là Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc... Chúng ta có thể coi giai đoạn này là giai đoạn các nhà văn quân đội, tạp chí Văn nghệ Quân đội chuẩn bị hành trang cho một cuộc chiến đấu quyết liệt, sống còn sau đó.

    Năm 1962 các nhà văn Nguyên Ngọc (Nguyễn Trung Thành), Nguyễn Ngọc Tấn (Nguyễn Thi) được Tổng cục Chính trị giao nhiệm vụ trở lại chiến trường miền Nam. Nhà văn Nguyễn Thi cùng các nhà văn Thanh Giang, Võ Trần Nhã đã góp phần thành lập và xuất bản tờ tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng miền Nam. Nhà văn Nguyên Ngọc cùng các nhà văn Nguyễn Chí Trung, Thu Bồn góp phần thành lập tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng Trung Trung Bộ. Tiếp đó là các chuyến đi bổ sung lực lượng cho hai tờ tạp chí nói trên của các nhà văn Trúc Hà (Nam Hà), Nguyễn Trọng Oánh (Nguyễn Thành Vân); nhà văn Văn Phác cũng rời tạp chí Văn nghệ Quân đội, đi theo đường mòn trên biển vào nhận công tác tại Bộ Tư lệnh Miền...

    Hai tờ tạp chí Văn nghệ giải phóng kể trên là sự tiếp nối của tạp chí Văn nghệ Quân đội trên chiến trường miền Nam. Từ hai tờ tạp chí xuất bản thủ công ngay giữa các trận đánh, một loạt tác phẩm xuất sắc nhất của giai đoạn này đã xuất hiện. Có thể kể tới: Người mẹ cầm súng, Ở xã Trung Nghĩa của Nguyễn Thi, Đường chúng ta đi, Rừng xà nu của Nguyên Ngọc, Trường ca chim Chơrao của Thu Bồn, Bức thư làng Mực của Nguyễn Chí Trung...

    Ở miền Bắc, trong suốt cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ, tòa soạn tạp chí Văn nghệ Quân đội sơ tán về xã Hương Ngải, Thạch Thất, Hà Tây. Những chuyến đi gian khổ, lặp đi lặp lại trong nhiều năm đến với các mặt trận ngoài Bắc, trong Nam đã dẫn đến sự ra đời của hàng loạt tác phẩm tiêu biểu: Họ sống và chiến đấu, Chiến sĩ của Nguyễn Khải; Kan Lịch, Khi có một mặt trời của Hồ Phương; Vùng trời của Hữu Mai; Lửa từ những ngôi nhà, Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu; Thôn ven đường của Xuân Thiều; Sao mai, Gió bấc của Dũng Hà; Mở rừng của Lê Lựu; Dòng sông phía trước của Mai Ngữ; Người cùng tuyến của Hải Hồ...

    Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, tạp chí Văn nghệ Quân đội nhanh chóng trở thành một người bạn thân thiết của những người lính. Có thể tìm thấy Văn nghệ Quân đội ở khắp các chiến trường, trong hầm chốt, trên đường hành quân. Người chiến sĩ tìm thấy một sự đồng điệu, một nguồn động viên ấm áp trên từng trang viết. Đã có không ít những cuốn tạp chí Văn nghệ Quân đội, Văn nghệ Quân giải phóng bị bom đạn xé rách, thấm máu của những chiến sĩ. Tạp chí Văn nghệ Quân đội cùng với các tác phẩm văn học khác đã trở thành một loại vũ khí tinh thần bên cạnh cây súng của những người lính.

    Đi, sống, chiến đấu và viết, trực tiếp phục vụ nhân dân, phục vụ bộ đội là lẽ sống của các nhà văn quân đội trong những năm tháng đó. Họ là những tấm gương lớn về nghị lực sống, về phẩm chất của các nhà văn-chiến sĩ. Đó là các nhà văn Nguyễn Thi, Nguyễn Trọng Oánh, Nam Hà ở chiến trường Nam Bộ. Nhà văn Nguyên Ngọc, Nguyễn Chí Trung, Thu Bồn ở chiến trường Khu 5. Trong thập niên 1960, nhà văn Nguyên Ngọc có thời gian được phân công trực tiếp làm bí thư chi bộ ở một xã của huyện Điện Bàn (Quảng Nam). Ông đã trụ lại trên vành đai trắng cùng với du kích, tham gia chống càn và gây dựng lại phong trào. Nhà văn Nguyễn Chí Trung liên tục bám các đơn vị chiến đấu. Không có trận đánh trọng điểm nào trên địa bàn Quân khu 5 ông không có mặt và khi những người lính đầu tiên đánh vào trung tâm căn cứ địch, ông cũng lập tức có mặt bên cạnh họ. Ở chiến trường Nam Bộ, nhà văn Nguyễn Thi, Nam Hà, Nguyễn Trọng Oánh bám dân, bám đất, bám đơn vị cơ sở, vừa tham gia chiến đấu, vừa viết. Viết xong đưa ngay xuống nhà in và chuyển về Văn nghệ Quân đội ở miền Bắc. Những tác phẩm có sức lay động lớn như: Người mẹ cầm súng, Chúng con chiến đấu cho Người sống mãi Việt Nam ơi!, Đường chúng ta đi, Bức thư làng Mực... đã ra đời trong những hoàn cảnh như vậy.

    Năm 1968, trong cuộc tổng tấn công Mậu Thân, nhà văn Nguyễn Thi được bố trí ở lại căn cứ nhưng ông xin đi chiến trường bằng được. Ông đã hy sinh anh dũng trên đường phố Sài Gòn, khi chỉ còn cách người con gái thân yêu mà ông đã gửi lại khi tập kết ra Bắc không xa. Ngày nay, ở thành phố Hồ Chí Minh có một con đường mang tên Nguyễn Thi.

    Khi cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc diễn ra ở Tây Nam đất nước, các nhà văn quân đội đã kịp thời đến với người lính ở tuyến đầu. Thu Bồn, Nguyễn Khải, Phạm Ngọc Cảnh, Nguyễn Trí Huân, Nguyễn Thị Như Trang, Lê Lựu, Vương Trọng, Văn Lê, Phạm Sĩ Sáu đã tích cực góp phần mình bằng những sáng tác sinh động, giàu chất sống.

    Trải qua 50 năm, nền văn học của đất nước chúng ta đã hình thành một đề tài, một đội ngũ chuyên viết về chiến tranh nhân dân, về lực lượng vũ trang nhân dân mà tạp chí Văn nghệ Quân đội là một trung tâm. Mảng đề tài đầy những sự tích anh hùng này là nguồn cảm hứng không chỉ đối với các nhà văn đương đại mà còn là của cả các thế hệ cầm bút mai sau. Nuôi dưỡng, chuẩn bị đội ngũ cho đề tài có tính chất chiến lược nói trên của văn học đang là mối quan tâm lớn của Tổng cục Chính trị, của tạp chí Văn nghệ Quân đội. Ngoài việc làm báo, các nhà văn của tạp chí Văn nghệ Quân đội còn tích cực sáng tác văn học và luôn xem đây là một nhiệm vụ quan trọng. Hàng chục tiểu thuyết, tập truyện ngắn, bút ký, thơ, trường ca và phê bình lý luận văn học đã ra đời trong thời kỳ đổi mới. Nhiều tác phẩm được bạn đọc quan tâm và được giải thưởng của Hội Nhà văn, Bộ Quốc phòng... như tiểu thuyết của Lê Lựu, Chu Lai, Triệu Bôn, Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Trí Huân, Nguyễn Bảo, Nguyễn Quốc Trung, Đỗ Viết Nghiệm, Sương Nguyệt Minh..., thơ và trường ca của Nguyễn Đức Mậu, Phạm Ngọc Cảnh, Lê Thành Nghị, Vương Trọng, Anh Ngọc, Nguyễn Hữu Quý..., lý luận phê bình của Nhị Ca, Ngô Thảo, Vương Trí Nhàn, Hồng Diệu, Ngô Vĩnh Bình. Một số nhà văn trẻ cũng giành được giải thưởng trong các cuộc thi của các tạp chí, báo và các nhà xuất bản như Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Đình Tú, Quỳnh Linh, Đỗ Bích Thúy, Đỗ Tiến Thuỵ, Nguyễn Thế Hùng, Phùng Văn Khai... Trần Đăng Khoa xuất hiện sớm như một thần đồng, khi được triệu tập về tạp chí Văn nghệ Quân đội đã tiếp tục có những vần thơ hay và những bài phê bình, tiểu luận sắc sảo.

    Những năm gần đây, Cuộc vận động sáng tác tiểu thuyết sử thi của Bộ Quốc phòng mà tạp chí Văn nghệ Quân đội được giao nhiệm vụ tổ chức đã thành công với 27/30 tác giả, hoàn thành chương trình (khoảng 100.000 trang sách), ghi lại một thời quá khứ hào hùng, cao thượng của dân tộc và quân đội ta.

    Trải qua 20 năm đổi mới, tạp chí Văn nghệ Quân đội vẫn là tờ tạp chí văn nghệ có số lượng xuất bản cao nhất nước, chiếm được tình cảm của đông đảo bạn đọc, đặc biệt là bộ đội ở cơ sở.

    Hiện nay đội ngũ nhà văn mặc áo lính đã tham gia các cuộc chiến tranh yêu nước đang thưa dần. Một thế hệ mới sinh ra trước và sau năm 1975, được bổ sung từ các đơn vị, từ các giải thi truyện ngắn, thi thơ của tạp chí và sinh viên các Trường đại học khoa học xã hội và nhân văn, Học viện Báo chí, đại học Sư phạm, Trường viết văn Nguyễn Du. Có thể coi đây là thế hệ kế cận trẻ trung nhất, mới mẻ nhất, đang chung lưng gánh vác nhiệm vụ 50 năm qua của thế hệ đàn anh, đàn chị. Trong 50 năm xây dựng và trưởng thành, đã có 4 nhà văn công tác tại tạp chí Văn nghệ Quân đội được nhận giải thưởng Hồ Chí Minh, 12 nhà văn được nhận giải thưởng quốc gia và quốc tế về văn học, 32 nhà văn được nhận giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam và Bộ Quốc phòng.

    Tập thể tạp chí Văn nghệ Quân đội cũng đã được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, trao tặng 2 huân chương Quân công hạng nhất và hạng ba, hai huân chương Chiến công hạng nhất, nhiều bằng khen của Bộ Quốc phòng, Bộ Văn hóa-Thông tin và Tổng cục Chính trị.

    Trước những cơ hội và thách thức mới của đất nước, tạp chí Văn nghệ Quân đội phấn đấu cao nhất xây dựng đội ngũ nhà văn trong tạp chí Văn nghệ Quân đội dũng cảm, trung thực, bám sát cuộc sống, có bản lĩnh và tài năng, đặc biệt là đội ngũ kế cận trưởng thành sau cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, hoàn thành tốt nhiệm vụ mới, sáng tạo những tác phẩm văn học xứng đáng với niềm tin yêu của nhân dân, cán bộ, chiến sĩ LLVT vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

    NGUYỄN BẢO (Tổng biên tập tạp chí Văn nghệ Quân đội)
    host

    Ý kiến bạn đọc

    0 bình luận
    Đang tải reCAPTCHA...