Sân bay Biên Hòa được xây dựng từ thời Pháp và được quân Mỹ mở rộng thành sân bay quân sự cấp 1 lớn nhất miền Nam, loại “tầm cỡ” ở Đông Nam Á. Từ năm 1965 đến 1970, quân ta tấn công sân bay này 12 lần...
Sân bay Biên Hòa được xây dựng từ thời Pháp và được quân Mỹ mở rộng thành sân bay quân sự cấp 1 lớn nhất miền Nam, loại “tầm cỡ” ở Đông Nam Á. Từ năm 1965 đến 1970, quân ta tấn công sân bay này 12 lần, gây thiệt hại lớn về phương tiện chiến tranh của địch. Do vậy, chúng bố trí hệ thống phòng thủ bảo vệ sân bay rất kiên cố. Bên cạnh sân bay còn có sở chỉ huy Bộ tư lệnh Quân khu 3 và Quân đoàn 3 ngụy.
Sân bay Biên Hòa cách Sài Gòn 25km, có diện tích sân bay rộng hơn 20 cây số vuông với nhiều khu vực để các loại máy bay, thường xuyên có từ 200 chiếc máy bay trở lên. Quân số ở đây có khoảng 5.000 gồm giặc lái, nhân viên kỹ thuật và quân số của nhiều đơn vị. Ngoài ra, địch còn bố trí các đơn vị lính dù, biệt động quân, pháo binh, xe bọc thép... trực tiếp bảo vệ sân bay. Bao bọc sân bay là nhiều lớp hàng rào kẽm gai nhiều tầng, nhiều lớp và chúng gài đủ loại mìn để ngăn bộ đội đặc công của ta xâm nhập. Bên ngoài sân bay còn có nhiều đồn bốt, có nhiệm vụ bảo vệ vòng ngoài cho sân bay Biên Hòa. Để đánh được địch, ta nghiên cứu cách tập kích hoả lực là hiệu quả nhất. Tuy nhiên phải bí mật luồn sâu, đánh bất ngờ.
![]() |
Lực lượng đặc công và pháo binh ta ở Miền Đông sử lối bắn ứng dụng. Đó là tách từng ống phóng, đặt tại các vị trí thuận lợi, bí mật áp sát mục tiêu. Lối bắn này đòi hỏi phải mang vác đạn, khá nặng, sau đó phải trinh sát, đo đạc mục tiêu, tính toán điểm rơi sao cho độ tản mác thấp nhất. Tiếp theo phải cấu trúc công sự, bệ phóng để phát huy cao từng trái đạn. Tuy vậy đánh địch ngay trong lòng địch bằng hoả lực mạnh, phải bí mật, bất ngờ. Đánh nhanh, rút nhanh, bảo toàn lực lượng.
Trung đoàn pháo hỏa tiễn 724 được thành lập tại làng Xa Cát, xã Hạ Bằng, huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây vào Miền Đông năm 1965 với gần 1.500 cán bộ chiến sĩ. Đây là đơn vị pháo hỏa tiễn mang vai đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt . Tầm bắn của loại hỏa tiễn DKB xa trên 11.000 mét rất phù hợp với chiến trường miền lúc bấy giờ. Trung đoàn hành quân từ tháng 3-1966 đến tháng 10-1966 thì đến Chiến khu Đ.
Vào đầu tháng 5-1967, toàn Trung đoàn 724 được lệnh tập trung để chuẩn bị trận đánh vào sân bay Biên Hòa. Bộ chỉ huy Miền giao nhiệm vụ cho Quân khu miền Đông chỉ đạo các đơn vị chủ lực cùng bộ đội địa phương hợp đồng tác chiến, hỗ trợ cho Trung đoàn pháo hỏa tiễn 724 hoàn thành nhiệm vụ. Điều trọng yếu nhất là phải bảo đảm tuyệt đối bí mật, an toàn cho loại vũ khí mới của quân đội ta lần đầu tiên sử dụng ở chiến trường miền .
Ngày , trung đoàn rời căn cứ thẳng tiến về hướng sân bay Biên Hòa. Chiều ngày , các tiểu đoàn 1,2,3 của trung đoàn đã chiếm lĩnh trận địa. Đến khoảng 20 giờ, các đơn vị này đã chuẩn bị xong các thiết bị kỹ thuật pháo, tiếp nhận đạn hỏa tiễn, mắc nối xong hệ thống thông tin... Đến 22 giờ 50, ở tất cả các trận địa, hỏa tiễn đã lên “dàn phóng”, chỉ chờ lệnh khai hỏa từ Sở chỉ huy. Đúng 23 giờ, toàn tuyến trận địa dài hơn 1 km dọc sông Đồng Nai thuộc các xã Mỹ Lộc, Tân Tịch, Thường Lang... đồng loạt gầm vang tiếng pháo của 54 khẩu hỏa tiễn ĐKB của Trung đoàn 724. Cả trận địa bừng lên ánh sáng rực lửa của hỏa tiễn, bay vút vào sân bay Biên Hòa.
Cả sân bay như chìm trong lửa đỏ với những cột khói bốc cao hàng trăm mét. Các đám cháy sân bay làm sáng rực cả một góc trời. Thị xã Biên Hòa lúc đó rung lên trong những tiếng nổ của đạn pháo bộ đội ta và tiếng nổ của bom đạn địch bị phá hủy. Sau 15 phút dội bão lửa vào căn cứ không quân Biên Hòa, bộ đội nhanh chóng thu dọn trận địa và rút quân về căn cứ an toàn. Quân địch vẫn còn ngỡ ngàng, choáng váng vì đòn tập kích bất ngờ của bộ đội ta. Sáng ngày , sân bay Biên Hòa bị tê liệt hoàn toàn và chìm đắm trong khói lửa. Trận tập kích đã phá hủy 150 máy bay Mỹ, cùng nhiều phương tiện kỹ thuật chiến tranh, kho tàng, vũ khí, khí tài của địch. Có hơn 800 tên địch bị tiêu diệt, trong đó chủ yếu là giặc lái và nhân viên kỹ thuật Mỹ.
Ngày , toàn Trung đoàn 724 về đến căn cứ an toàn. Các phương tiện thông tin đại chúng trên thế giới đều đưa tin về trận tập kích của Quân giải phóng vào sân bay Biên Hòa vào đêm .
* * *
Với quyết tâm đánh thiệt hại nặng căn cứ sân bay Biên Hòa, ngày Trung đoàn Đặc công 113 lại được lệnh tìm cách đột kích đánh vào sân bay này. Đó là trận tập kích hoả lực đáng nhớ. Với quyết tâm đánh thiệt hại nặng căn cứ sân bay Biên Hòa, ngày Trung đoàn Đặc công 113 được lệnh tìm cách đột kích đánh vào sân bay này. Sau khi trinh sát, nghiên cứu kỹ mục tiêu và cách đánh, trung đoàn quyết định sử dụng Tiểu đoàn 9, Tiểu đoàn 174 và đại đội trinh sát chuẩn bị phương án.
Tiểu đoàn 174 chịu trách nhiệm tập kích hỏa lực ĐKB vào sân bay bằng phương pháp bắn ứng dụng. Lúc này, được sự hỗ trợ đắc lực của Tỉnh ủy Biên Hòa, đã huy động dân quân, du kích địa phương vận chuyển vũ khí cho trận tập kích và bảo vệ bí mật hành lang suốt hai ngày đêm. Giờ nổ súng được ấn định đêm mồng 2, rạng sáng mồng .
Khi sân bay Biên Hoà còn chìm trong đêm, các vọng gác rọi đèn, súng bắn cầm canh, thì bất ngờ hỏa lực của trung đoàn dồn dập giội 202 quả đạn ĐKB, 45 quả H12 vào vị trí các bãi đỗ máy bay trên sân bay, các kho tiếp liệu, kho bom và sở chỉ huy Quân khu 3, Quân đoàn 3 ngụy.
Trận pháo kích bất ngờ của Trung đoàn đặc công 113 làm cho quân địch không kịp phản ứng. Thị xã Biên Hòa rung động, lửa khói cuộn cao thành cột cháy sáng một vùng trời. Kết quả trận đánh thật vang dội, ta đã phá hủy, làm hỏng 74 máy bay, hai giàn ra-đa, một kho bom, một kho xăng, phá sập nhiều công sự, diệt hàng trăm binh lính địch. Sau trận tập kích, lực lượng ta rút về hậu cứ an toàn.
* * *
Tháng 4-1975- khi Tây Nguyên, Huế - Đà nẵng và mặt trận phòng thủ từ xa Cam Ranh – Phan Rang bị vỡ, lực lượng phòng thủ Sài Gòn – Gia Định của ngụy quyền Sài Gòn bị căng ra rất mỏng nên lực lượng không quân là chỗ dựa chủ yếu, sống còn của địch.
Trong chiến dịch HCM, nhiệm vụ khóa sân bay Biên Hòa và làm tê liệt sân bay Tân Sơn Nhất có ý nghĩa chiến dịch – chiến lược và một trong những vấn đề được đặt ra là: “Địch đối phó như thế nào khi phát hiện lực lượng ta xung quanh Sài Gòn nếu hai sân bay này bị khống chế.”
![]() |
“Phi trường” Biên Hoà đường băng dài 3.600m, rộng 45m, có hàng trăm máy bay các loại, đặc biệt là máy bay tiêm kích F5 và A37, có hệ thống chỉ huy hiện đại có thể dẫn máy bay cất cánh – hạ cánh cả ban ngày và ban đêm và được bố trí rất chu đáo cẩn mật.
Đại đội 26 pháo 130 ly của đoàn 75 được tăng cường một tiểu đoàn cao xạ 37 ly có nhiệm vụ khóa sân bay Biên Hòa nhằm ngăn chặn máy bay địch không yểm trợ được cho Xuân Lộc và bảo đảm an toàn cho lực lượng chiến dịch tiếp cận xung quanh Sài Gòn – Gia Định. Sau 5 ngày hành quân và làm công tác chuẩn bị,sáng ngày 11/4 pháo binh ta mới chiếm lĩnh trận địa và đến 18 giờ ngày 13/4 mới hoàn thành công tác chuẩn bị bắn và sẵn sàng nổ súng.
Đúng 17 giờ ngày 14/4, trận địa pháo nổ súng bắn vào sân bay Biên Hòa, ngay từ loạt đạn đầu đã gây cháy kho đạn, tiếng nổ ầm ầm từ trung tâm Sài Gòn cũng nghe rõ tiếng. Với uy lực của trái pháo 130 ly đã phá hủy nhiều máy bay và cơ sở vật chất của địch khiến số lần xuất kích máy bay địch giảm mạnh, chỉ còn 5-6 lần chiếc/ ngày. Vì số đạn của ta có hạn nên ta phảivừa đánh vừa rút kinh nghiệm, cứ khoảng 3 phút bắn 1 số loạt, bắn không thành quy luật, có ngày bắn 10 lần, có ngày chỉ bắn 4-5 lần. Khi đường băng trúng đạn chúng phải cho công binh ra sửa. Chiến công này góp phần cản địch phản kích ra cứu Xuân Lộc.
Sáng ngày 26-4-1975, trước ngày chiến dịch Hồ Chí Minh mở màn, sân bay Biên Hòa hoàn toàn bị đóng cửa, số máy bay còn lại chúng phải vội vã chuyển về Tân Sơn Nhất. Trận địa Pháo 130 của đại đội 26 đã dũng cảm chiến đấu, tìm ra cách đánh có hiệu suất cao, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
TRẦN HẠNH
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận