“Biết thì thưa thốt/ Không biết thì dựa cột mà nghe”, lời răn của người xưa được chắt ra từ gan ruột cuộc đời, từ trải nghiệm hạnh phúc, nỗi cay đắng ê chề trong cách ứng đối của con người trước nhân gian…
“Biết thì thưa thốt/ Không biết thì dựa cột mà nghe”, lời răn của người xưa được chắt ra từ gan ruột cuộc đời, từ trải nghiệm hạnh phúc, nỗi cay đắng ê chề trong cách ứng đối của con người trước nhân gian… tưởng đã là chí lý sâu sắc; ấy vậy mà, cho dù, ngay từ khi mới lọt lòng, ai ai cũng thấm nhuần lời truyền dạy trên từ đời này qua đời khác, nhưng xem ra, cái kiểu phớt lờ, nói lấy được, nói bừa nói phứa vẫn là căn bệnh nặng thời văn minh hiện đại.
Chính Mã mục sở thị một nhà văn tầm tầm, ham đại ngôn quảng cáo, do quan hệ quen biết, nhà văn này lần đầu được ra nước ngoài thăm thú ngoại giao. Khi trao đổi với bạn nhà văn nổi tiếng của nước sở tại, thay vì chỉ nên nói những điều đã biết ở nước mình, thì nhà văn ta lại nhận xét đánh giá và tỏ ra bất phục những tên tuổi cũ rích từ đời tám hoánh ở nước họ. Bạn nhà văn nước ngoài vì xã giao, vì lịch lãm đã rất chăm chú lắng nghe ý kiến của nhà văn ta. Rồi với giọng ôn tồn, bạn nhà văn nước ngoài hỏi lại: Ngài có tìm hiểu các nhà văn hiện đại của chúng tôi không? Ví dụ… Rồi bạn nhà văn nhắc tới một loạt tên tuổi hiện đại lừng danh thế giới ở nước họ. Bạn nhà văn ta ngơ ngác, và cuối cùng thì cười chống chế: Quả thật tôi chưa được đọc họ, những nhà văn tôi nhắc tên cũng chỉ được nghe qua đài báo, chưa tìm hiểu kỹ. Câu trả lời của nhà văn ta làm cả đoàn ngượng chín mặt. Không biết thì thôi, không biết mà cứ tỏ ra mình biết, lại còn đánh giá, nhận xét phê phán người ta thì quả là hết thuốc chữa. Thật xấu hổ…
Nhiều lần khác Mã từng đọc, từng nghe cả ngoài vỉa hè và trên báo viết báo mạng rằng: Không ở đâu như nước ta, người yêu thơ nhiều nhất thế giới; và chỉ người Việt mới yêu thơ đến thế, cả nước làm thơ… Yêu thơ, làm thơ thì tốt, thì lành mạnh chứ sao. Đó còn là điều phúc cho đất nước chứ đâu phải xấu. Chả lẽ chỉ yêu tiền, tăm tối vì tiền mới là tốt?... Có điều người yêu thơ, người làm thơ đừng lợi dụng thơ, đừng giả dối với thơ là được. Và vấn đề ở đây là, những người phát ngôn kiểu này chỉ ăn theo nói leo, thích giễu cợt, thích ra oai, thích đóng vai cao cả-đạo đức giả. Họ chán đến mức không thể hiểu rằng: Mọi sáng tạo của tư duy khởi thủy đều từ thơ (Saint-John Perse, giải Nobel văn học 1960). Và nữa, ông nói: Thơ trước hết là phương thức sống-và sống trọn vẹn. Nhà thơ tồn tại trong con người sống nơi hang động, nhà thơ lại sẽ sống trong con người thời hạt nhân. Vì chất nhà thơ, đó là phần không thể thiếu trong con người. Ngay cả tôn giáo cũng sinh ra từ thơ… Thơ là hành động, thơ là đam mê, thơ là sức mạnh và sự đổi mới luôn luôn không biết đâu là giới hạn. Nó có mặt ở khắp chốn mọi nơi, ở cả trong khả năng đi trước và thấy trước. Nó không bao giờ là sự vắng mặt hay khước từ, nó khiến con người được hoàn toàn là chính mình… Vì lẽ đó, không phải chỉ ở Việt mà cả nhân loại, nghĩa là, đã là con người thì tự nhiên có chất thơ, chứ không phải chỉ ở nước ta… Mã nhớ trong diễn từ của nhà thơ người Czech, J.Seifert-giải Nobel văn học 1984, ông nói về tình yêu thơ của dân tộc ông đại loại rằng: Nước chúng tôi có thể tồn tại không chỉ lòng quan tâm thơ ca, mà là cả một nhu cầu đối với thơ ca… Thơ ca trở thành một nhân tố cốt tử trong sự thức tỉnh văn hóa và chính trị của chúng tôi, rằng dân tộc tôi đã quen hiểu mọi sự thông qua cách trình bày của các nhà thơ, rằng các nhà thơ, các nhà trữ tình là người định hình ý thức dân tộc của chúng tôi, rằng dân tộc tôi lấy các nhà thơ, chọn các nhà thơ làm người phát ngôn cho mình, việc đó chính là tinh thần dân tộc của chúng tôi. Đó là sự tôn sùng ở nước tôi với thơ ca, và uy thế cao vời của thơ… Và có lẽ thế gian này không chỉ có dân tộc Czech mà nhiều dân tộc khác nữa cũng có cùng quan niệm trên. Vì vậy không thể vội vã ngộ nhận, không thể nói lấy được rằng, chỉ dân ta mới thế này hoặc dân ta mới thế kia… khi chúng ta chưa hiểu biết bao nhiêu về thế giới…
Vẫn câu chuyện: Biết thì thưa thốt… dịch giả Vũ Phong Tạo, dù đang ốm nằm bệnh viện, hôm rồi vẫn cố gửi cho Mã một lá thư. Trong thư, ông tỏ ra rất bức xúc với loại người mà ông gọi là “ếch ngồi đáy giếng”, nhất mực cho rằng: Văn học Việt Nam không được dịch sang Trung văn xuất bản ở Trung Quốc; có chăng chỉ là Những lá thư từ tuyến đầu Tổ quốc và Ông cố vấn-Hồ sơ một điệp viên của Hữu Mai. Sự thật, ngay từ nửa cuối thế kỷ 20, Trung Quốc đã dịch và xuất bản trên 70 tác phẩm văn học Việt Nam, như: Nhật ký trong tù, Tố Hữu thi tập, Vùng mỏ, Tranh tối tranh sáng, Vỡ đê, Chiến sĩ, Truyện Tây Bắc, Tuyển tập truyện ngắn hiện đại Việt Nam, Thơ Xuân Diệu… Ông nói với Mã rằng, sở dĩ ông phải nói như vậy vì không thể chịu được hạng người đã không biết lại còn to mồm đại ngôn, làm như ta cái gì cũng biết vậy. Loại người như thế vừa dốt vừa trịch thượng, chán lắm…
Chuyện không biết mà thưa thốt, thoáng qua tưởng vô thưởng vô phạt; nhưng đã biết bao chuyện tai bay vạ gió, tan đàn sẻ nghé, tin đồn hư thực nhiễu nhương, gây bao nghi ngờ sóng gió tai ương, đã thành thói tật nhố nhăng, làm tổn thương thêm sự thật trong lành, giản dị của cuộc sống mỗi ngày vậy…
MÃ PÍ LÈNG
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận