Thứ Năm, 11/09/2008, 21:15

    Cảm tính của phê bình

    Mùa hè năm ngoái đã có một cuộc tọa đàm gây được tiếng vang với chủ đề dịch từ tiếng Anh là: Phê bình văn học trên báo chí-khách quan hay cảm tính? Nhưng việc điều hành không tốt khiến cho buổi tọa đàm không triển khai được vấn đề theo hướng nó vạch ra.

    Mùa hè năm ngoái đã có một cuộc tọa đàm gây được tiếng vang với chủ đề dịch từ tiếng Anh là: Phê bình văn học trên báo chí-khách quan hay cảm tính? Nhưng việc điều hành không tốt khiến cho buổi tọa đàm không triển khai được vấn đề theo hướng nó vạch ra. Vả lại, đó là một vấn đề giả, hoặc ít ra là một sự gây nhầm lẫn được xem như vấn đề, xét trên mặt diễn đạt của nó. Việc diễn đạt không chính xác thường gây ra hậu quả trước khi có khả năng giải quyết.

    Nhưng việc lựa chọn lối diễn đạt hàm ngụ sự đối lập rõ rệt nói trên lại biểu đạt một thành kiến đương thời, cho rằng hoạt động phê bình văn học (PBVH) như tình trạng lâu nay thì hoặc là "khách quan" hoặc là "cảm tính", mà cái nào "tốt" cái nào không thì đã rõ rồi(?!).

    Về thực trạng của PBVH đã bị chê trách rất nhiều mấy năm qua hẳn không cần xát thêm mắm muối nào, nhưng vẫn cần nhớ đến cái tính chất, động lực và sự phân biệt căn bản của nó mà một số người trong khi lớn tiếng chê trách đã không nói rõ: PBVH đó là một phần hợp thành trong cuộc đấu tranh ý thức hệ về tư tưởng và văn hóa.

    Về các biên độ quá lạm của nó mà những người phê phán gọi là phê bình cánh hẩu, quyền uy hay trù dập-những sự quá lạm tạo nên một phần lớn cái thành kiến về PBVH khách quan hay cảm tính, mà không tạo nên chính PBVH-thì chủ yếu là chuyện về con người cá thể và về các thể chế văn học tương ứng, mà xét cho cùng là vấn đề về dân chủ hóa, chống quan liêu, có mặt ở tất cả các thiết chế do con người tạo nên.

    Như vậy, không có vấn đề PBVH hiện nay là khách quan hay cảm tính-một kiểu loại "vấn đề" luôn có năng lực đưa phê bình ra ngoài hiện trường văn học. Mà công việc của phê bình là phải đưa người ta đi vào bên trong hiện trường đó ngay cả khi phê phán nặng nề nhất.

    Tuy nhiên việc tránh khỏi vết hằn của cái thành kiến nói trên là một việc khó. Bởi vì đòi hỏi về phẩm chất khách quan của PBVH là một đòi hỏi có thật, cho dù không phải vì thế mà phân loại phê bình thành hai thứ đối lập như trên. Và còn bởi người ta thường quên cần phải đặt vào đâu cái đòi hỏi về tính khách quan đó, mà thường vẫn bị đặt vào thái độ, vào phán đoán kinh nghiệm và hạnh kiểm của người phê bình-tức là vẫn nhìn thấy cái tương tự mà quên mất cái khác biệt.

    Điều giống như vậy đã xảy ra khi xem xét một tác phẩm văn chương chỉ bằng vào những phạm trù quen thuộc như đề tài, cốt truyện, nhân vật, ý nghĩa, v.v... mà nói đúng hơn là đi ngay vào những cấu trúc khái quát hóa như vậy, để rồi tiến thẳng lên những khái quát to rộng hơn, cũng mơ hồ hơn về triết lý hay chủ nghĩa.

    Đối với công việc văn chương, một giả định phổ biến và có xác suất cao là người sáng tác luôn luôn và không ngừng phải cân nhắc lựa chọn từng câu từng chữ, xây dựng từng câu từng đoạn văn, từng câu thoại với đầy ý thức cẩn trọng để tạo nên tác phẩm. Theo đó thì hầu như mỗi câu văn dù là trần thuật, mô tả, đối thoại hay biểu hiện đều có, hoặc phản ánh, tất cả những gì là các trải nghiệm, tri thức, các quan điểm và thị hiếu thẩm mỹ, mức độ của trí tưởng tượng hay sự sống động của ký ức.

    Các cấu trúc bằng ngôn từ đó là cái thực tại duy nhất của văn chương, nơi tái hiện bằng chữ nghĩa các hình ảnh của nhân cách và hành động con người, và được tái kích hoạt một lần nữa mỗi khi có người đọc đến.

    Bởi vậy, khi cất tiếng nói về một tác phẩm văn chương là ta nói bằng một ngôn ngữ nói về chính nó, hoàn toàn trừu tượng: những phạm trù như "cốt truyện", "nhân vật", "đề tài", v.v... đều là những cấu trúc khái quát hóa từ thực tại của văn chương, mang lại một sự hình thức hóa cho các mối liên hệ của ngôn từ trên văn bản. Đó là sự hình thức hóa đối với các mối liên hệ về ý nghĩa, không phải dành cho các quan hệ phổ biến của ngôn từ trong ngữ pháp và cú pháp.

    Các mối liên hệ về ý nghĩa giữa các từ ngữ, các câu, các đoạn văn luôn luôn là những tập hợp cá biệt; từ sáng tác của một người này đến sáng tác của một người kia, những tập hợp đó khác nhau như những dấu vân tay khác nhau không bao giờ trùng khớp. Cái thực tại đó của văn chương khiến cho việc hình thức hóa những tập hợp liên hệ như vậy thành ra lỏng lẻo và cảm tính nếu định coi các phạm trù hình thức đó là có trước và qui định đối với mỗi quá trình sáng tác văn chương.

    Tuy nhiên, nếu điều đó vẫn cứ xảy ra, như thực tế là vậy, thì có lẽ cần xem đó là lựa chọn của người sáng tác. Nhìn chung, một người viết trước hết là một người đọc và trong tư cách này, anh ta từ lâu đã thích ứng với việc tiếp nhận tri thức thông qua ngôn ngữ và quan niệm của người khác, trong đó có việc thừa nhận và thích ứng với sự hình thức hóa các trải nghiệm ngôn từ văn chương như là "nhân vật", "đề tài", "cốt truyện" v.v..

    Quá trình được mệnh danh là một quá trình sáng tạo, do đó, không hoàn toàn có nhiều tự do như một chuyến du lịch lữ hành ngẫu hứng, mà có cái tự do của một kẻ bị dìm xuống rất sâu bỗng thoát ra và bơi lên phía mặt nước. Trong khi các khả năng cùng với hành động như vậy tạo nên biểu tượng, thì sự khái quát hình thức về nó mang lại một bề ngoài cảm tính của biểu tượng; các khái quát hình thức hóa không thể định lượng đó chính là cảm tính của PBVH, mà chỉ hành vi của ngôn ngữ viết mới có thể ở vị thế khách quan.

    Phê bình đi ngược chiều quá trình biểu tượng hóa của hành động ngôn ngữ trong văn chương, đồng thời bơi ngược dòng nước xiết những khái quát hình thức về trải nghiệm ngôn từ, dẫu rằng không có những cấu trúc khái quát đó thì y cũng chẳng thể bơi được. Nhưng mục tiêu vẫn luôn nằm ở chính các trải nghiệm ngôn ngữ trong nhịp hành tiến của câu và đoạn. Sự khái quát hóa không phải là vận động viên chạy cự li ngắn hay lá cờ giơ sẵn ở đích đến. Nếu không có một quá trình, nó chỉ là một hình thức của cảm tính vậy thôi.

    NGUYỄN CHÍ HOAN

    host

    Ý kiến bạn đọc

    0 bình luận
    Đang tải reCAPTCHA...