Trại sáng tác do Hội Văn nghệ các dân tộc thiểu số Việt Nam và Hội Văn nghệ Tuyên Quang tổ chức năm nay có nhiều tác giả thơ tham dự. Trong thời gian ở trại, có những chùm thơ mới sáng tác, có những phần thơ, tập thơ được sửa chữa hoàn thiện.
Trại sáng tác do Hội Văn nghệ các dân tộc thiểu số Việt Nam và Hội Văn nghệ Tuyên Quang tổ chức năm nay có nhiều tác giả thơ tham dự. Trong thời gian ở trại, có những chùm thơ mới sáng tác, có những phần thơ, tập thơ được sửa chữa hoàn thiện. Phần thơ của Lê Na có những bài khá như: Đi dọc miền lau, Xóm nhà bè, Tập làm người núi. Lê Na thể nghiệm nhiều thể loại thơ: thơ lục bát, thơ ngũ ngôn, thơ tự do… Trong bài Đi dọc miền lau, Lê Na nhắc đến sông Lô, đến địa danh lịch sử bằng những câu thơ uyển chuyển: Đưa em đi dọc miền lau/ Bờ hoa tím đến sậm màu chiều rơi/… Bình Ca sóng nước chia đôi/ Em về bên ấy lẻ tôi xóm chài… Trong bài Xóm nhà bè, Lê Na khai thác những chất liệu đời sống:
Xóm nghèo rộn ràng cát sỏi
Ngày vui cá quẫy rung lồng
Theo em bơi thuyền nhặt củi
Với nắng phơi vàng bến mong
Tấc đất cắm dùi cũng không
Nhà bè rất nhiều sóng vỗ
Nứa tre ken nhau nằm thở
Mặt sông mặt người gần kề…
Thơ Nguyễn Kim Thanh có hai phần: phần viết cho thiếu nhi và phần thơ trữ tình, ở phần thơ trữ tình, Nguyễn Kim Thanh có các bài Mưa muộn mùa, Tại sao, Nếu, Trở lại chiến khu xưa… Đọc Nguyễn Kim Thanh tôi nhớ những câu viết về chuyện tình hồ Núi Cốc: Càng yêu nồng nàn/ Càng đau lạnh giá… hoặc tác giả viết về hoa dã quỳ: Như muốn đem mùa thu/ Tặng cho ai một nửa. Tuy nhiên đôi lúc Nguyễn Kim Thanh còn sa vào những câu chung chung, ít gây sự rung cảm trong người đọc.
Hai tác giả Hoàng Văn An, Mã Thế Vinh có hai phần thơ tiếng Việt và tiếng Tày. Ở phần thơ tiếng Việt, Hoàng Văn An mở rộng đề tài. Tác giả viết về nơi vùng đất mình đã sống hoặc qua những chuyến đi thực tế: Mùa lúa vàng trên quê hương Hoàng Văn Thụ, Hồn cây hồn đá hồn người, Đi thăm Mường Phăng… Cùng với Hoàng Văn An, ở Lạng Sơn còn có nhà thơ cao niên Mã Thế Vinh. Ngoài thơ ngắn, Mã Thế Vinh đang viết trường ca: Bác Hồ đi chiến dịch. Nhà thơ Mã Thế Vinh đã góp phần biên soạn tập sách Tràng Định với chiến thắng Biên giới (xuất bản năm 2005). Từ tư liệu đã có trong cuốn sách, Mã Thế Vinh đã chuyển hóa thành trường ca giàu chất sử thi. Đây là một thử thách đối với một nhà thơ cao niên, bởi trong trường ca, yếu tố quyết định là bút lực thăng hoa và dòng chảy ào ạt của cảm xúc.
Chùm thơ của Hữu Tiệp có bài về Thành Tuyên cảm xúc còn tươi mới: Thuyền ai đậu bến Bình Ca?/ Uốn khúc đôi bờ/ Ngô xanh chè biếc/ Vườn đồi ngan ngát hương hoa/ Nơi đất thánh Tân Trào lịch sử/ Lán Nà Lừa bóng Bác vẫn còn đây/ Dòng sông Đáy in thuyền thơ lấp lánh/ Trăng giữa trời cũng ngả nghiêng say. Tác giả còn có thơ viết về cuộc sống đổi thay của vùng bản người Mông. Nhịp thơ quen thuộc nhưng câu thơ đứng được bởi tình thực, ý thực:
Cối xay đá giữ làm kỷ niệm
Của tháng ngày chặt gốc, ăn hoa
Con gái bản Mông biết sao bè, cấy lúa
Réo rắt khèn ai trong đêm trăng ngà…
Phần thơ của Ngọc Hiệp có những bài lục bát khá nhuần nhuyễn như: Vợ người hàng xóm, Mưa tháng ba. Trong bài Mưa tháng ba, tác giả có những câu rất gợi: Tiếng mưa tí tách, hay là/ Mầm non của lớp vỏ già nhú lên/ Ta thèm những hạt mưa đêm/ Thấy xôn xao lúa đồng chiêm quê nhà/ Thấy ngày xưa bóng mẹ ta/ Còng lưng trên cánh đồng xa, ruộng gần… Thơ Ngọc Hiệp nghiêng về thể loại truyền thống, dễ đọc, dễ nhớ. Ở những bài có những câu hay, tác giả ít sa vào kể lể và xen trải được cảm xúc, chiêm nghiệm.
Tác giả Lưu Thị Bạch Liễu đang tạo cho thơ mình có bản sắc giọng điệu riêng. Với cách diễn đạt phóng khoáng, thơ Lưu Thị Bạch Liễu ít bị gò bó, khuôn thước trong thể loại. Dù viết về đề tài nào, tác giả cũng xen được tâm trạng, bộc lộ được cách nhìn, cách cảm riêng mình. Lưu Thị Bạch Liễu viết về núi Hoa với những câu thơ cảm động: Mộ bà trên đỉnh núi Hoa/ Cúi nhìn cháu con đầy bản/ dõi cháu con nơi xa/ nhà mình ngay chân núi Hoa/ mây vẫn bay như trắng tóc bà.
Trên đây là những ghi nhận bước đầu về thơ ở một trại sáng tác. Từ vốn sống được dồn nén, từ những lần đi thâm nhập thực tế, từ sự nỗ lực, gắng gỏi, các tác giả đã có thơ. Hy vọng rằng, từ những bản thảo thơ, từ những lần gặp gỡ nhau trao đổi về nghiệp vụ, các tác giả sẽ tự rút ra bài học cho riêng mình. Thơ là cảm xúc, ý tưởng cộng với sự lao động của ngôn từ. Sửa thơ cũng là công việc thường xuyên của người làm thơ. Một bài thơ sửa chữa nhiều lần, có khi nó mãi mãi nằm trong bản nháp cũng là chuyện thường tình. Có thể do sự huyễn hoặc, khi viết xong bài thơ, tác giả tự cho rằng thơ mình hay nhưng để lâu đọc lại và suy ngẫm cho hết nhẽ tác giả mới phát hiện ra những khiếm khuyết, thiếu hụt mà mình mắc phải. Và đọc lại thơ mình, biết đâu tác giả lại nảy sinh thêm được những ý mới, bài thơ sẽ thăng hoa hơn. Sự lao động bền bỉ nghiêm túc sẽ mang lại những hiệu quả bất ngờ mà chính người viết cũng không lường hết được.
Tuyên Quang, tháng 6 năm 2007 NGUYỄN ĐỨC MẬU
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận