Thứ Sáu, 10/07/2009, 20:57

    Chùa Trấn Quốc

    Chùa không nhiều bậc đá rêu phong, hay núi non trùng điệp, nhưng thật yên bình cùng sóng nước ngân nga, vẫn có thể cho hồn ta giọt nước cành dương, rửa đi một phần thế tục, để làm Lành làm Thiện với nhân gian...

    No image available
    Chùa Trấn Quốc soi mình trong bóng nước Hồ Tây

    Chùa không nhiều bậc đá rêu phong, hay núi non trùng điệp, nhưng thật yên bình cùng sóng nước ngân nga, vẫn có thể cho hồn ta giọt nước cành dương, rửa đi một phần thế tục, để làm Lành làm Thiện với nhân gian...” - nhà văn Băng Sơn của Hà Nội đã viết như thế về một trong những ngôi chùa cổ nhất Việt Nam - Hòn ngọc của Hồ Tây - Chùa Trấn Quốc.

    Theo sử sách ghi lại, chùa được xây dựng vào thời vua Lý Nam Đế (544-548), có tên là Khai Quốc, và ở trên bãi Yên Hoa, bên bờ sông Hồng. Niên hiệu Bảo Đại, đời vua Lê Thái Tông, chùa được đổi tên thành An Quốc. Đến đời Lê Trung Hưng năm 1615, do bãi sông bị lở gần vào đến chùa, nhân dân phường Yên Hoa (sau này là Yên Phụ) mới dời chùa vào đảo Cá Vàng (Cổ Ngư) ở Hồ Tây, là địa điểm hiện nay của chùa. Chùa được dựng trên nền cũ cung Thúy Hoa (thời nhà Lý) và điện Hàn Nguyên (thời nhà Trần). Thế kỷ 17, người ta cho đắp đê Cổ Ngư và tạo đường nối từ đê với đảo Cá Vàng. Đến niên hiệu Chính Hoà (1680-1705) đời vua Lê Hy Tông, chùa đổi tên là Trấn Quốc.

    Chùa được trùng tu nhiều lần vào các năm 1624, 1628 và có quy mô lớn nhất là vào đời vua Lê Thần Tông năm 1639. Quy mô chùa lúc này so với trước lớn gấp trăm lần. Đến đời nhà Nguyễn, chùa lại được trùng tu, đúc chuông, đắp tượng và nhiều lần được các vua nhà Nguyễn ghé thăm. Năm 1842, vua Thiệu Trị tuần du ra Bắc, đổi tên chùa là Trấn Bắc, nhưng tên chùa Trấn Quốc có từ đời vua Lê Hy Tông đã được nhân dân quen gọi cho đến ngày nay.

    Chùa có ba nếp nhà chính là tiền đường, nhà thiêu hương và thượng điện nối thành hình chữ Công. Hai bên nhà thiêu hương và thượng điện là hai dãy hành lang. Sau thượng điện là gác chuông. Bên phải là nhà tổ và bên trái là nhà bia. Trong chùa hiện nay còn lưu giữ 14 tấm bia, trong đó có tấm bia của Trạng nguyên Nguyễn Xuân Chính khắc năm 1639 nói về việc tu bổ ngôi chùa và tấm bia năm 1815 có bài văn của tiến sĩ Phạm Quý Thích nhắc đến việc xây dựng chùa sau một thời gian dài đổ nát. Chùa còn có vườn tháp lớn và nhiều tượng Phật xếp từ thấp đến cao, từ to đến nhỏ, đặc biệt là pho tượng Thích Ca nhập Niết Bàn bằng gỗ thếp vàng lộng lẫy. Ở khuôn viên chùa có cây bồ đề xum xuê cành lá, đó là quà tặng của Tổng thống Ấn Độ Prasat trồng tặng Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân chuyến thăm Hà Nội năm 1959.

    Năm 1998, Hòa thượng Kim Cương Tử - Viện chủ Tổ đình chùa Trấn Quốc đã cho xây bảo tháp lục độ đài sen trong khuôn viên chùa gồm 11 tầng, cao 15 mét, diện tích mặt sàn 10,5m vuông. Mỗi tầng tháp gồm 6 ô cửa vòm, có tượng Phật A Di Đà bằng đá quí. Tổng số tượng của tháp là 66 pho và trên đỉnh có 9 tầng đài sen cũng bằng đá quí (cửu phẩm liên hoa).

    Lạ kì thay, nằm giữa phố xá ồn ào, chùa Trấn Quốc trên hòn đảo Cá Vàng xinh đẹp với cây cối xanh tốt bốn mùa vẫn trầm lặng, yên ả, thanh bình soi mình trong bóng nước hồ Tây.

    Bài và ảnh: HUYỀN THANH
    host

    Ý kiến bạn đọc

    0 bình luận
    Đang tải reCAPTCHA...