Thứ Sáu, 25/01/2008, 20:00

    Cổ tích “Miền khoai lang đất cát”

    Đất Hà Tĩnh quê tôi vốn nghèo. Từ bao đời nay theo lời ông nội tôi, một thầy đồ nho nổi tiếng cả vùng Nghi Xuân kể lại, người dân ở đây gần như sống bằng khoai. Khoai lang nuôi sống người dân quê tôi, để cho bao người thành danh, bằng vàng, bia đá.

    Đất Hà Tĩnh quê tôi vốn nghèo. Từ bao đời nay theo lời ông nội tôi, một thầy đồ nho nổi tiếng cả vùng Nghi Xuân kể lại, người dân ở đây gần như sống bằng khoai. Khoai lang nuôi sống người dân quê tôi, để cho bao người thành danh, bằng vàng, bia đá. Mỗi lần kể chuyện về củ khoai quê nhà, ông nội lại gật gù đọc đôi câu đối nói lên cái chí khí của vùng đất: “Sáng khoai, trưa khoai, tối khoai. Khoai ba bữa/ Ông đỗ, con đỗ, cháu đỗ. Đỗ cả nhà”. Suốt một thời ấu thơ, tôi gắn bó với những củ khoai lang đất cát. Đến bữa ăn, cả nhà tôi quây quần bên mâm… khoai. Lũ trẻ chúng tôi vừa bóc những củ khoai đỏ, khoai trắng, khoai vôi nần nẫn, nóng hôi hổi vừa thổi phù phù vừa nhai nhồm nhoàm. Khoai quê tôi bùi tận vỏ. Cắn miếng khoai, bột như tan ra trong miệng rồi quánh lại. Vị ngọt tê tê đầu lưỡi, ấm cả chân răng. Mùa khoai về, nhà nhà chọn những củ khoai nguyên lành không tróc vỏ, dự trữ ăn dần. Lại nhặt những củ khoai sứt sẹo, tỉ mẩn cắt gọt đi, rửa sạch thái từng lát, phơi khô cho vào chum, vào vại, đậy kín bằng lá chuối khô cẩn thận, phòng khi mưa dầm, gió nghẹt, hay ngày ba, tháng tám, có thể nấu lên xéo cùng đỗ, lạc hay độn cơm ăn dần. Khoai lang đất cát để càng lâu càng bùi, càng ngọt. Bữa ăn quê kiểng vùng đất nghèo, trong tuổi thơ tôi hầu như chỉ “khoai, khoai, toàn khoai”! Hạt cơm trắng, có chăng chỉ được lèo tèo cõng trên ba bốn miếng khoai to bự. Còn những bữa cơm không độn khoai chỉ là những ngày giỗ kỵ, tết nhất mới có. Mẹ tôi khuyên mà như an ủi: “Ăn khoai vừa ngọt, vừa bùi, vừa no lâu lại nhuận tràng lắm, các con ạ!”. Đêm đêm mẹ ru chúng tôi ngủ. Anh em chúng tôi dù mới lưng lửng bụng khoai độn cơm cũng ngủ ngon lành trong lời ru của người:

    “À ơi… Trăng rằm đã tỏ lại tròn,

    Khoai lang đất cát đã ngon lại bùi…”

    Tôi lớn lên, rời quê nghèo đi tìm cuộc mưu sinh. Làm người thợ xây, tôi đi đến bao miền nước trong, gạo trắng. Rồi tôi lấy vợ, sinh con ở một miền quê trù phú tận cực nam đất nước. Gia cảnh người thợ xây không lấy gì làm khá giả, nhưng những bữa ăn không còn cảnh khoai lang cõng hột cơm nữa mà cơm gạo trắng tinh, thơm phức. Bưng bát cơm ăn, tôi lại nhói lòng thương quê nhà lam lũ, với những bữa cơm khoai. Mỗi lúc xem báo, nghe đài, xem ti-vi biết rằng Hà Tĩnh quê tôi nhiều năm nay đã khởi sắc, nhưng vẫn không nguôi bão dập, lũ dồn. Bão lũ dữ dằn đến vậy, chắc bây giờ quê hương còn nghèo lắm. Bát cơm độn khoai có đầy, có đủ no lòng mẹ, có đủ no lòng em tôi không? Quê hương thì xa lăng lắc, công việc người thợ xây nay đây mai đó, tối mắt, tối mũi cả ngày. Phần vì tàu xe cách trở, phần vì bận bịu, tôi ít có dịp về quê. Mỗi năm đôi lần, vợ chồng tôi dành dụm tiền thu nhập không lấy gì làm dư dả của người thợ gửi về đỡ đần cho mẹ. Thật xót xa, chúng tôi nghĩ thế là mình đã làm trọn đạo hiếu. Nhưng trong các cuộc họp mặt đồng hương, lớp người con quê hương Hà Tĩnh trang lứa tôi-những đứa con xa quê ở đây-không ai không thuộc, không đồng cảm câu thơ đau đáu của nhà thơ quê hương-Phạm Ngọc Cảnh: “Củ khoai bở ăn đến giờ còn nghẹn/ Manh áo tơi che không hết nỗi nghèo!”. Câu thơ cháy rát trong tim những kẻ xa quê. Nhập nhòa trong câu thơ là quê nhà, là những cồn cát trắng mênh mông, là những cánh đồng không có màu xanh, chỉ bạc trắng một màu sóng lũ…

    Nhiều cái Tết đi qua đời tôi, đi qua nỗi nhớ. Tết Mậu Tý này, nỗi nhớ cố hương không sao cầm lòng được, tôi khăn gói tìm về. Mẹ tôi đã già lắm rồi. Người ôm lấy tôi nấc nghẹn. Đứa em gái cũng đã có chồng, có con. Bữa cơm đầu tiên ở quê nhà được dọn ra. Tôi để ý thấy ngoài những món ăn quen thuộc ngày xưa, có thêm nhiều đĩa ăn mới mà năm tháng tha hương tôi chưa hề thấy. Còn cơm thì được nấu bằng loại gạo mới trắng tinh mà tôi vẫn thường ăn ở những miền quê được gọi là xứ sở của lúa thơm, gạo dẻo. Bưng bát cơm lên, tôi nhìn mẹ, băn khoăn:

    - Mẹ ơi, mẹ coi con là khách hay sao mà dọn cơm thịnh soạn thế này? Đến cơm cũng nấu bằng gạo mới! Ngày còn ở nhà, cứ gần Tết này, là thời điểm khó khăn nhất trong năm. Ông nội vẫn bảo: “Tết ngắn rồi cũng có ba mươi Tết có thịt treo trong nhà” mà. Cái đáng lo là cái tết dài. Ấy là ông chỉ cái sự đói giáp hạt giêng hai. Thế nên, dịp này không những nhà ta mà nhà nhà ăn cơm độn khoai dài dài đến chiều hai chín. Bây giờ, hằng ngày mẹ, em và các cháu vẫn ăn cơm độn khoai, phải không mẹ?

    Mẹ tôi bùi ngùi gạt nước mắt. Cô em gái thì che miệng cười. Đứa cháu gái mới lên sáu sà vào lòng tôi, ngước đôi mắt tròn xoe lên, líu ríu hỏi:

    - Bác ơi, cơm độn khoai là thứ cơm chi hở bác? Ngon lắm phải không bác? Rồi quay sang bà và mẹ, cháu phụng phịu:

    - Răng hằng ngày bà và mẹ không nấu cơm độn khoai cho con ăn? Bà mí mẹ nói bác phải đi làm thợ xa xôi, khổ nhiều, thương bác lắm, răng bác về bà mí mẹ không nấu cơm độn khoai cho bác ăn? Cơm độn khoai ngon lắm mà?

    Tôi thấy sống mũi mình cay xè. Ôi chẳng lẽ những bát cơm độn khoai ngày xưa ở quê tôi đã trở thành cổ tích rồi ư? Có phải từ lâu lắm rồi, những bát cơm độn khoai đã trở thành hiếm hoi ở đất quê này? Đến đứa cháu tôi đã lên 6 tuổi cũng chẳng biết đó là thứ cơm gì. Cháu cứ nghĩ đó là thứ cơm ngon lắm. Mà nghĩ cho cùng, thực ra, nó ngon thật, quý thật. Thứ cơm đã nuôi nấng bao thế hệ, bao cuộc đời người quê tôi. Tôi đã định nói câu gì đó với cháu, nhưng vốn là người thợ không chọn đủ lời, hơn nữa thấy nghẹn tắc ở cổ, không sao nói được!

    Đêm ấy, sau bao năm, bao cái Tết đi xa, tôi được ngủ giữa quê hương. Bao nhiêu điều mới mẻ đầy ắp, khiến tôi không sao ngủ được. Bồng bềnh lời mẹ thao thiết trong tôi: “Đi xa, chân cứng, đá mềm, cứ yên lòng con ạ. Cuộc sống của người dân quê mình, của mẹ khá lên nhiều lắm. Thôi ngủ đi con. Ngày mai mẹ sẽ luộc cho con nồi khoai thật ngon, thật bở, để con ăn thỏa thuê với cà pháo như ngày xửa, ngày xưa ấy mà…!”.

    Tôi cứ thao thức nghĩ về những lời của mẹ rồi len lén trở dậy bước ra ngoài, một mình thả bộ trên con đường ngày xưa cát ngập bàn chân nay đã được đổ bê tông phẳng lì. Đêm cuối năm yên tĩnh lạ lùng. Hình như có tiếng mùa xuân đang trở mình trong đất. Tiếng rì rầm của đất đai sinh nở. Dư thanh ấy, tôi nghe như lời nhắn gửi của quê nhà tới những đứa con xa quê như tôi, như bao người: Rằng chính nơi gió lào cát trắng này, mẹ ta, em ta, người dân quê ta đã không cam chịu đói nghèo, đã vươn dậy, mang hương sắc mùa xuân nâng cánh cho “miền khoai lang đất cát” làm nên câu chuyện cổ tích hôm nay…!

    NGUYỄN XUÂN DIÊU



    host

    Ý kiến bạn đọc

    0 bình luận
    Đang tải reCAPTCHA...