Thứ Năm, 12/07/2012, 20:05

    Cùng trong một tiếng tơ đồng…

    QĐND - Có thể là vô tình mà hai câu thơ của Cụ Nguyễn Du trong Truyện Kiều: “Cùng trong một tiếng tơ đồng/ Người ngoài cười nụ người trong khóc thầm” trở thành một cách nói khái quát nhất về nguyên lý tiếp nhận văn học. Cùng một đối tượng nghệ thuật (cùng trong một tiếng tơ đồng) nhưng vì tâm thế, tình cảm khác nhau, trải nghiệm sống… khác nhau, nói khác đi là do “cái tôi” khác nhau nên mỗi người

    QĐND - Có thể là vô tình mà hai câu thơ của Cụ Nguyễn Du trong Truyện Kiều: “Cùng trong một tiếng tơ đồng/ Người ngoài cười nụ người trong khóc thầm” trở thành một cách nói khái quát nhất về nguyên lý tiếp nhận văn học. Cùng một đối tượng nghệ thuật (cùng trong một tiếng tơ đồng) nhưng vì tâm thế, tình cảm khác nhau, trải nghiệm sống… khác nhau, nói khác đi là do “cái tôi” khác nhau nên mỗi người tiếp nhận theo một kiểu, có khi đối ngược nhau (người ngoài cười nụ người trong khóc thầm).

    Tiếp nhận văn học là hoạt động chiếm lĩnh các giá trị tư tưởng, nghệ thuật của tác phẩm văn học. Nhờ tiếp nhận mà tác phẩm được tri giác, liên tưởng, cắt nghĩa… ở người đọc, tác phẩm được trở nên sống động, hoàn chỉnh. Lý luận văn học hiện đại phân biệt văn bản và tác phẩm, khi chưa có người đọc thì đấy mới chỉ là văn bản nhưng khi có người đọc tham gia đánh giá, bình luận, tiếp thêm sự sống, phú thêm nghĩa mới thì được coi là tác phẩm.

    Tiếp nhận truyền thống nghiêng về phía cá thể. Câu chuyện Bá Nha đàn nghĩ đến núi cao, Chung Tử Kỳ nói tiếng đàn của anh nghe vời vợi như núi cao. Bá Nha đàn nghĩ đến trùng khơi, Chung Tử Kỳ nhận xét tiếng đàn có âm thanh mênh mang của sóng biển. Chẳng may Chung Tử Kỳ mất sớm, Bá Nha đàn chẳng ai hiểu bèn đập đàn mà bỏ đi. Đấy là lối phê bình kiểu tri âm, tri âm là sự tiếp nhận tác phẩm đúng như ý định tác giả. Còn phê bình ký thác là mượn tác phẩm để bộc bạch nỗi lòng, để nói chí, tỏ chí. Phê bình truyền thống không vượt thoát ra ngoài tác phẩm để vươn tới những chân trời thẩm mỹ xa rộng hơn nên trong xã hội hiện đại hôm nay không được đánh giá cao.

    Tiếp nhận hiện đại nghiêng về các quy luật xã hội. Người đọc chịu sự quy định bởi bối cảnh không gian văn hóa, các mã nghệ thuật, mã ngôn ngữ. Bài thơ "Cây chuối" của Nguyễn Trãi có nhiều cách hiểu là tiêu biểu cho lối tiếp nhận mới này. Trước hết là tiêu đề. Tại sao Nguyễn Trãi là một nhà nho điển hình lại viết về “cây chuối” mà không phải là “tùng, cúc, trúc, mai” quen thuộc đến mức công thức? Để hiểu rõ vấn đề phải đặt hình tượng này vào phong cách tác giả và không gian văn hóa phương Đông. Chủ thể trữ tình trong Ức Trai luôn là một hồn thơ hoài cổ, các hình tượng cũng luôn có xu hướng quay về với quá khứ, mà cây chuối trong thơ cổ xưa, nhất là trong thơ cổ Trung Quốc thường có. Một nét nghĩa đen có từ cây chuối để các nhà nho lấy đó làm biểu tượng cho người quân tử là nõn thường trắng, có phạt ngang thân cây thì chỉ một lúc sau cái nõn ấy lại trồi lên cứ như không chịu khuất phục trước một hành động bạo lực nào. Dễ thấy, ẩn đằng sau hình tượng cây chuối là một hình tượng Nguyễn Trãi trong trắng, cương trực, không chịu cúi luồn. Quanh chữ “buồng” trong câu: Đầy buồng lạ mùi thâu đêm, có ba cách hiểu: Một, là buồng chuối, cách hiểu này bị vặn lại, nhà thơ tả cây chuối non thì không thể có buồng được.  Trả lời: Ức Trai tả cụm chuối nên có cây mẹ có cây con. Hai, là buồng thành thân của đôi vợ chồng mới cưới, nên có mùi bột hồ tiêu được trát lên vách cho căn phòng thêm ấm cúng nồng nàn. Ba, là buồng văn, người xưa khi đọc sách thường đốt hương trầm để tỏ lòng thành tâm khi ngẫm ngợi kinh sách của thánh hiền. Cả ba cách hiểu đều có thể chấp nhận vì nó phù hợp với phẩm chất đa nghĩa của hình tượng thẩm mỹ. Tương tự, căn cứ vào mã ngôn ngữ mà gần đây có người hiểu hình tượng “bánh trôi nước” trong bài thơ cùng tên của Hồ Xuân Hương không phải là hình tượng người phụ nữ theo cách hiểu lâu nay mà chính là “đôi gò bồng đảo” của phái đẹp.  Cách hiểu này căn cứ vào câu: Thân em trắng phận em tròn thì hợp với hình tượng “đôi gò bồng đảo” hơn là hình tượng người phụ nữ có thể là trắng chứ sao có thể lại tròn được. Trong khi đó thẩm mỹ truyền thống lại ca ngợi người con gái đẹp thường là mảnh mai cao ráo (cổ cao ba ngấn, thắt đáy lưng ong…) chứ không mấy khi khen cô gái có nét tròn, mũm mĩm, béo tốt…

    Như vậy đủ thấy tiếp nhận sẽ làm phong phú thêm hình tượng văn học. Tiếp nhận này lại mở ra tiếp nhận khác mới hơn, cũng là cách tiếp thêm sức sống, khơi gợi các cách đọc hiểu mới cùng đào sâu thêm những tầng ý nghĩa mới. Từ đó có thể khẳng định: Không có tiếp nhận thì văn học không tồn tại. Còn gì buồn hơn một nhà văn sản sinh ra văn bản mà không có ai để ý!

    Tại sao tiếp nhận văn học hôm nay trầm lắng, cứ như quay lưng ngoảnh mặt với sáng tác?!

    Hãy hình dung một hình tượng văn học có sức sống là một cây xanh cắm rễ rất sâu vào mảnh đất văn hóa truyền thống để cần cù hút lấy chất dinh dưỡng nghệ thuật; còn tán cây, cành cây, lá cây luôn vươn lên để quang hợp ánh sáng tinh thần tư tưởng của bầu trời văn hóa đương đại. Chiểu theo ý này, đối chiếu với các hình tượng trong văn Ức Trai, Hồ Xuân Hương ở trên, ta dễ thấy hình tượng văn học hôm nay còn nhạt về ý, nông về nghĩa. Nói khác đi là nhìn vào đó người ta không thấy rõ biểu hiện của chất dinh dưỡng truyền thống và mờ nhạt tư tưởng của thời đại hôm nay.

    Hàm hồ mấy lời như vậy, liệu có đúng chăng?

    Nguyên Thanh

    vuhuyen

    Ý kiến bạn đọc

    0 bình luận
    Đang tải reCAPTCHA...