Ngày 1 tháng 9 năm 1858 mở đầu cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược. Quân và dân ta đã dũng cảm đương đầu với súng đạn, chiến thuyền của liên quân thực dân Pháp-Tây Ban Nha khi chúng nổ súng tấn công đánh chiếm bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng.
![]() |
|
Sơ đồ cuộc tiến công của quân Pháp vào Đà Nẵng, tháng 9-1858. |
Ở thế kỷ XIX, Việt Nam nằm trong tầm ngắm của thực dân Pháp trong kế hoạch giành giật thị trường và mở rộng khu vực ảnh hưởng ở Đông Nam Á. Đà Nẵng được coi như một cửa ngõ chiến lược để xâm lược Việt Nam. Qua hai trận tấn công thăm dò và thử lực lượng phòng thủ của triều đình Huế bố trí tại Đà Nẵng: trận thứ nhất vào ngày 15-4-1847 và trận thứ hai vào ngày 26-9-1857, “Ủy ban nghiên cứu về Việt Nam” do Nam tước Brơ-niêng đứng đầu đã ấn định kế hoạch đánh chiếm Việt Nam, mà Đà Nẵng được chọn làm khởi điểm với việc chiếm được hải cảng này, quân Pháp sẽ tiến ra Huế, dự định đánh chiếm kinh đô một cách dễ dàng, nhanh chóng, ít hao tốn tiền của và nhân lực nhất.
Sau khi liên quân Anh-Pháp đánh xong Quảng Châu (ngày 5-1-1858) và dùng áp lực buộc triều đình phong kiến Trung Quốc ký Hiệp ước Thiên Tân ngày 27-6-1858, Chính phủ Pháp điều động thiếu tướng hải quân Ri-gôn Đờ Giơ-nui-y (Rigault De Genouilly) sang xâm lược Việt Nam.
Cuối tháng 8-1858, chiến hạm Pháp đến đóng tại đảo Hải để hội quân cùng chiến hạm Tây Ban Nha do đại tá Lan-da-rốt (Lanzarote) chỉ huy. Từ chiều ngày 31-8-1858, liên quân Pháp-Tây Ban Nha gồm 16 tàu chiến được trang bị vũ khí thuộc loại hiện đại nhất; trong đó có các khẩu đại bác có sức công phá lớn và khả năng sát thương cao, đã kéo đến dàn trận tại cửa biển Đà Nẵng (Đà Nẵng lúc này thuộc tỉnh Quảng Nam). Mờ sáng ngày hôm sau (1-9-1858), chúng cho người mang tối hậu thư buộc trấn thủ Trần Hoàng phải trả lời ngay trong vòng hai giờ. Tuy nhiên không đợi hết hạn, chúng đã ra lệnh cho tàu chiến bắn đại bác lên các đồn Điện Hải, An Hải của triều đình suốt trong ngày hôm đó. Tiếp theo, chúng cho quân đổ bộ lên bán đảo Sơn Trà.
Chỉ trong ngày đầu nổ súng, hầu hết những đồn phòng thủ của triều đình Huế ở phía đông sông Hàn đều bị hạ. Sáng ngày 2-9-1858, địch tiếp tục pháo kích tấn công thành Điện Hải và đổ quân chiếm khu vực phía tây. Một phòng tuyến được lập ở phía Hòa Vang để ngăn địch. Diễn biến của trận đánh cho thấy địch không thể phát huy được sức mạnh của binh khí kỹ thuật để tấn công ồ ạt, mà bị chặn ngay ở cửa biển Đà Nẵng. Đây là kết quả của sự kháng cự quyết liệt của lực lượng đồn thủ dưới sự chỉ huy của một triều đình lúc đó còn toàn vẹn sinh lực, với quyết tâm cao và sự hậu thuẫn của nhân dân. Ngoài quân chủ lực của triều đình, còn có sự tham gia của dân binh sở tại.
Sau khi Tổng đốc Lê Đình Lý bị trúng đạn trọng thương và hy sinh, vua Tự Đức đã cử Thống chế Chu Phúc Minh làm Tổng đốc quân vụ thay Lê Đình Lý. Mặt khác, Tự Đức điều Nguyễn Tri Phương, võ tướng số một của triều đình lúc đó, đang làm Kinh lược sứ Nam Kỳ ra chỉ huy mặt trận Đà Nẵng thay cho Chu Phúc Minh. Là một võ quan có tài thao lược, ngay từ đầu Nguyễn Tri Phương đã đánh giá tình hình một cách đúng đắn, đề ra một phương thức phòng thủ và đánh địch năng động, thích hợp. Ông không chủ trương tiến công địch chính diện để tránh sức mạnh hỏa lực của địch mà bao vây chặn địch ở ven biển, tăng cường phục kích đánh địch, không cho địch tiếp xúc với dân, thực hiện “vườn không nhà trống”, cô lập và triệt đường tiếp tế, cung cấp lương thực tại chỗ của chúng.
Cũng trong tháng 9-1858, Trần Nhật Hiển, đội trưởng doanh Kỳ Vũ, một võ quan cấp thấp của triều đình Huế, đã hiến mật kế để đánh Pháp. Triều đình chấp thuận, cho thi hành: làm dây xích sắt chắn ngầm ngang các dòng sông và cửa biển Thuận An, Tư Hiền, dùng thuyền nhỏ phục kích những nơi hiểm yếu.
Cùng thời gian này, quân và dân tỉnh Quảng Nam dùng sọt tre, thùng gỗ chứa đất, đá lấp dòng sông Vĩnh Điện để ngăn chặn đường tiến quân của giặc Pháp. Dòng sông bị lấp, thế nước sẽ dồn về cửa biển Đại Chiêm, do đó miền hạ lưu sẽ cạn, thuyền giặc không thể vào được, quân và dân ta chỉ còn lo tập trung phòng bị mặt đường bộ.
Tháng 11-1858, chiến thuyền của Pháp tiến công vào sông Hàn và sông Nại Hiên (Quảng ) đã bị quân dân ta dưới sự chỉ huy của Đào Trí và Nguyễn Duy phục kích đánh tan. Ít ngày sau, giặc Pháp lại đem 8 thuyền chiến tiến vào sông Nại Hiên lần nữa và cũng bị quân dân ta do Nguyễn Tri Phương chỉ huy đánh bại, buộc phải tháo chạy.
Cho đến hết năm 1858, quân Pháp vẫn không sao mở rộng được địa bàn chiếm đóng, phá vỡ thế phòng thủ của ta, để thực hiện chiến lược đánh nhanh, thắng nhanh.
Tiến thoái đều không được Ri-gôn Đờ Giơ-nui-y lúc này được phong làm Đô đốc, bèn quyết định chuyển hướng tiến công vào Gia Định. Đầu tháng 2-1859, quân Pháp chỉ để lại ở Đà Nẵng một lực lượng nhỏ chiếm đóng và vài chiến hạm do đại tá hải quân Toay-ông (Toyon) chỉ huy. Tương quan lực lượng tại Đà Nẵng lúc này đã thay đổi, tạo thế thuận lợi cho ta. Những toán viện binh sau đó cũng bị hao mòn vì bệnh truyền nhiễm và khí hậu oi bức, cộng thêm sự căng thẳng thần kinh do các cuộc tập kích hàng đêm vào các cứ điểm của quân triều đình và dân binh.
Kết cục, sau 18 tháng đánh chiếm Đà Nẵng (từ 1-9-1858 đến 23-3-1860 Pa-giơ (Page)-thiếu tướng tổng chỉ huy liên quân Pháp-Tây Ban Nha được lệnh của Chính phủ Pháp rút hết quân ra khỏi Đà Nẵng để đưa sang hỗ trợ cho chiến trường Trung Quốc. Trước khi rút quân, Pa-giơ đã ra lệnh đốt hết các đồn trại ở Sơn Trà, An Hải, Điện Hải, Trà Úc để lại bên phía đông hòn Mẻ Diều, bán đảo Sơn Trà một nghĩa địa và hàng trăm nấm mồ nằm rải rác.
18 tháng chiến đấu dũng cảm, kiên cường ngăn chặn được bước chân xâm lược của quân đội thực dân Pháp là thắng lợi lớn ở mặt trận Đà Nẵng. Những cố gắng cao nhất của triều đình và quan quân nhà Nguyễn lúc đó đã được thể hiện trên chiến trường. Trận thắng đầu tiên đã nêu cao tinh thần yêu nước bất khuất của quan quân nhà Nguyễn và nhân dân Đà Nẵng, Quảng Nam cùng quân dân cả nước, góp phần cổ vũ, động viên nhân dân ta trong suốt 80 năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đặc biệt là nhất tề đứng dậy dưới ngọn cờ của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh giành thắng lợi cuối cùng đem lại độc lập, tự do cho Tổ quốc.
ĐẶNG VIỆT THỦY
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận