QĐND - Là một quốc gia đa dân tộc, Việt Nam có nền văn hóa đa dạng, phong phú trong sự thống nhất. Tiếng Việt, từ lâu đời, đã là ngôn ngữ chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Tiếng Việt, qua thăng trầm của lịch sử, vừa giữ được bản sắc của mình, vừa tiếp thu được tinh hoa của nhân loại để phát triển...
QĐND - Là một quốc gia đa dân tộc, Việt Nam có nền văn hóa đa dạng, phong phú trong sự thống nhất. Tiếng Việt, từ lâu đời, đã là ngôn ngữ chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Tiếng Việt, qua thăng trầm của lịch sử, vừa giữ được bản sắc của mình, vừa tiếp thu được tinh hoa của nhân loại để phát triển. Thế nhưng, sau một thời gian mở cửa, với sự tiếp thu ồ ạt, thiếu chọn lọc văn hóa ngoại lai, chúng ta đang làm biến dạng tiếng Việt. Đáng lo ngại nhất, chúng ta chưa có một cơ cơ sở pháp lý vững chắc để bảo vệ ngôn ngữ dân tộc.
Cha ông chúng ta đã làm gì để bảo vệ và phát huy ngôn ngữ dân tộc?
Một cách tự nguyện, trong trường kỳ lịch sử, tiếng Việt đã trở thành ngôn ngữ chung của quốc gia. Ngoài việc giao lưu với người Việt bằng tiếng Việt, nhiều dân tộc thiểu số ở nước ta còn sử dụng tiếng Việt như một công cụ giao tiếp trung gian khi giao tiếp với nhau. Ví dụ như người Thái và người Mông, người Khơ-me và người Chăm giao tiếp với nhau qua tiếng Việt. Chính nhờ vậy, tiếng Việt ngày càng tỏa rộng, đi sâu vào đời sống của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Thời Bắc thuộc, chống lại sự đồng hóa về ngôn ngữ, cha ông chúng ta đã sáng tạo ra chữ Nôm để thể hiện ngôn ngữ Việt. Phải “chung sống” với một nền văn hóa lâu đời, phát triển hơn, chúng ta phải tiếp thu-tiếp thu rất nhiều-vốn từ của nền văn hóa đó. Thế nhưng, chúng ta không tiếp thu một cách đơn giản, thụ động, dễ dãi bằng cách sử dụng nguyên ngữ, mà đã chuyển ngữ, Việt hóa, biến thành vốn từ của chúng ta. Vì thế, ngày nay trong tiếng Việt, có rất nhiều từ Hán-Việt, mà lại hoàn toàn tuân thủ ngữ pháp và văn hóa sử dụng tiếng Việt (ví dụ như đoàn kết, độc lập, khôi phục...).
Thời kỳ thực dân Pháp đô hộ, mặc dù trong một thời gian dài, người Pháp đã sử dụng tiếng Pháp làm ngôn ngữ hành chính, giáo dục-đào tạo, và chúng ta sử dụng hệ chữ La-tinh để viết tiếng Việt, nhưng cũng như các thế hệ cha ông, lớp người thuộc thế hệ này đã Việt hóa tiếng Pháp để làm giàu cho ngôn ngữ dân tộc. Rất nhiều từ, do sự phát triển kinh tế, kỹ thuật của chúng ta chậm hơn nước Pháp, chúng ta chưa có, thì cha ông chúng ta đã mượn nguyên từ Pháp và Việt hóa để trở thành từ Việt (ví dụ như: Chambre à air¸được Việt hóa thành săm, có nghĩa là cái săm, Envle loper được Việt hóa thành lốp (xe máy, ô tô, xe đạp) mà người miền Nam gọi là ruột và vỏ, xicle được Việt hóa thành xích (xe đạp, xe máy…).
![]() |
|
Ngay giữa thủ đô Hà Nội, biển hiệu quảng cáo không tôn trọng tiếng Việt tràn ngập. Ảnh: Duy Văn. |
Một quy luật chung cho sự tiếp nhận ngôn ngữ nước ngoài mà cha ông chúng ta vận dụng là chỉ sử dụng từ ngữ nước họ, Việt hóa từ cách viết tới cách đọc, đặt vào câu theo chuẩn ngữ pháp tiếng Việt. Quan trọng hơn, các từ ngữ ấy được sử dụng theo đúng chuẩn mực văn hóa Việt.
Tiếng Việt đang bị xâm hại nghiêm trọng
Trong sự mở rộng giao lưu, hội nhập, tiếng nước ngoài, đặc biệt là tiếng Anh được sử dụng ngày càng nhiều, đáp ứng giao tiếp ngày càng rộng mở. Đó là sự chuyển biến tất yếu của ngôn ngữ, đáp lại những nhu cầu phát triển ngày càng mạnh và rộng trên mọi lĩnh vực. Việc sử dụng thành thạo ngôn ngữ nước ngoài, nhất là tiếng Anh, giúp chúng ta hội nhập quốc tế dễ dàng hơn.
Tuy vậy, sự tiếp thu văn hóa cũng như ngôn ngữ nước ngoài của chúng ta thời nay lại không tuân thủ những nguyên tắc mà cha ông ta hàng ngàn năm đúc kết, truyền lại. Đó là sự tiếp thu thiếu chọn lọc, có lúc tùy tiện, làm “tha hóa” văn hóa, ngôn ngữ nước nhà. Trên lĩnh vực ngôn ngữ, sự tiếp thu thực hiện theo phương pháp sử dụng nguyên từ ngữ nước ngoài xen lẫn tiếng Việt trong mọi sự giao tiếp, thậm chí sử dụng ngôn ngữ theo văn hóa của nước ngoài, làm tiếng Việt mất đi sự trong sáng, trở nên lai căng, xa lạ.
Cách thức tiếp thu vốn tiếng Anh thời nay như sau:
Sử dụng nguyên ngữ, từ cách viết, đọc tới nghĩa, ghép vào câu tiếng Việt (thank, good,… Ví dụ: Em thank anh). Điều này được thể hiện trên các mặt báo, trang sách và lời nói hằng ngày.
Sử dụng độc lập nguyên ngữ. Phổ biến là ở trong việc đặt tên kênh truyền hình của Việt Nam (Info TV, E-Channel, Yeah1family, Yeah1 TV, Shopping TV…); đặt tên các dự án bất động sản (Dự án khu nhà ở cao cấp Skylight, Căn hộ cao cấp Azura Đà Nẵng, Nhà ở cao cấp Spring Life, Khu nhà ở cao cấp và văn phòng cho thuê Golden Palace, Chung cư cao cấp Green Park-Constrexim, KDC Đại Phúc Green Villas, Quận 2 EcoLakes Mỹ Phước, Bến Cát Garden,… ).
Sử dụng nguyên ngữ hoặc chuyển ngữ theo phong cách văn hóa nước ngoài. Ví dụ: Chào buổi sáng/trưa/tối thay cho Chào bác/ông, bà, anh...). Tiêu biểu, là Đài Truyền hình Việt Nam có một chương trình là “Chào buổi sáng”! Cách nói của phương Tây cũng thay thế cách nói của Việt Nam ở nhiều trường hợp. Ví dụ: Ông A đến từ Hà Nội thay cho cách nói của Việt Nam: Ông A, người Hà Nội…
Tình trạng nói trên đáng báo động tới mức người nước ngoài cũng phải lo ngại cho ngôn ngữ nước ta. Trong cuốn sách Ngược chiều vun vút - NXB Hội Nhà văn-2012, Joe Ruelle (tác giả người Ca-na-đa) phải thốt lên: “Có những đất nước ở châu Á như Xin-ga-po hay Phi-líp-pin nói tiếng Anh song song với tiếng mẹ đẻ. Cho dù có sự pha lẫn nhất định nhưng chủ yếu đó là hai ngôn ngữ riêng biệt. Ở Việt Nam đang có nguy cơ thành hai trong một. Tiếng Vietnamese. Không hẳn Tây cũng không hẳn ta”.
Thế mà, nghịch lý là người Việt Nam lại thờ ơ với sự xâm hại ngôn ngữ của chính mình. Người ta chưa ý thức được rằng sử dụng ngôn ngữ ngoại lai vô nguyên tắc cũng tức là tự làm mất chủ quyền dân tộc/quốc gia ngay trên đất nước của mình. Dư luận chưa bao giờ nổi sóng-như kiểu nổi sóng với hành động “khóa môi” của Đàm Vĩnh Hưng với nhà sư, hay hát nhép của ca sĩ nào đó, hoặc sự xâm hại di tích chùa Trăm Gian, đình Ngu Nhuế… Các cơ quan quản lý văn hóa chưa bao giờ lên tiếng ngăn chặn hay can thiệp đối với sự xâm hại tiếng Việt. Điều đó chứng tỏ người Việt đang thiếu ý thức bảo vệ ngôn ngữ của chính mình. Điều đó còn chứng tỏ luật pháp nước ta chưa quan tâm đến việc bảo tồn và phát triển ngôn ngữ quốc gia. Chưa có điều luật nào nhằm bảo vệ ngôn ngữ quốc gia, ngăn chặn sự xâm hại, làm “tha hóa” ngôn ngữ quốc gia.
Cần có biện pháp đồng bộ bảo vệ tiếng Việt
Tiếng Việt, có thể nói là di sản gốc của mọi di sản nước ta. Muốn bảo vệ các di sản văn hóa dân tộc, trước hết phải bảo vệ bằng được ngôn ngữ dân tộc. Do vậy, cần thực hiện đồng bộ các biện pháp nhằm bảo vệ tiếng Việt.
Trước hết là về ý thức, phải giáo dục cho cộng đồng tình yêu và sự coi trọng tiếng Việt. Học và sử dụng ngoại ngữ là việc làm thiết yếu, nhưng khi sử dụng phải tách bạch, không làm lai tạp tiếng Việt. Không chỉ có học sinh trong trường học, mà mọi người cũng cần được giáo dục về ý thức đối với tiếng Việt, coi đó là một bộ phận của ý thức bảo vệ chủ quyền quốc gia.
Tiếp đến, cần có những điều luật, văn bản quản lý… quy định việc sử dụng và bảo vệ tiếng Việt. Trước đây, Bộ Văn hóa-Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đã có văn bản về việc sử dụng tiếng nước ngoài trong việc đặt tên, biển hiệu, trong đó cấm sử dụng tiếng nước ngoài khi đặt tên công ty, đơn vị, treo biển quảng cáo (trừ trường hợp bất khả kháng đối với một số công ty nước ngoài hoặc liên doanh). Nay cần thực hiện trở lại những quy định ấy. Cần giao cho Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ tiếng Việt.
Các cơ quan truyền thông, đặc biệt là các cơ quan báo chí, cần nghiêm túc trong việc sử dụng ngôn ngữ, làm gương cho cộng đồng.
Bảo vệ tiếng Việt là việc làm vừa cấp bách, vừa lâu dài. Bảo vệ tiếng Việt là một phần quan trọng trong trách nhiệm bảo vệ chủ quyền quốc gia mà mỗi công dân Việt Nam đều phải thực hiện.
TS PHẠM VIỆT LONG (TBT Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam)
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận