QĐND - Chỉ sau một năm hoạt động BDHV, tính đến 8-9-1946 dân ta đã có 2.520.678 người thoát nạn mù chữ trên tổng dân số 22 triệu người. Chính nhờ biết đọc, biết viết mà hàng triệu đồng bào ta đã tự mình viết được lá phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, trong đó Bác Hồ được bầu với lá phiếu cao nhất.
Bài 2: Dốt nát cũng là kẻ thù
Diệt giặc dốt cũng như diệt giặc Pháp
QĐND - Quả thật, BDHV là kỳ tích. Những nỗ lực phi thường, những việc làm có một không hai ấy không tách khỏi sự đóng góp tuyệt vời của đội ngũ giáo viên. Những người này được Bác Hồ tặng danh hiệu là những “Chiến sĩ vô danh”, “là đội tiên phong trong sự nghiệp tiễu trừ giặc dốt”… “làm việc mà không lương bổng, thành công mà không có tiếng tăm… là những người vô danh anh hùng…”... “Lòng hy sinh của họ không bờ bến, hy sinh việc nhà, những phút nghỉ ngơi, những cuộc giải trí và nếu cần cả tiền tiêu riêng…” và “một phần tương lai của dân tộc nước nhà tùy thuộc vào sự thành công của sự nghiệp đó”.
Chỉ sau một năm hoạt động BDHV, tính đến 8-9-1946 dân ta đã có 2.520.678 người thoát nạn mù chữ trên tổng dân số 22 triệu người. Chính nhờ biết đọc, biết viết mà hàng triệu đồng bào ta đã tự mình viết được lá phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, trong đó Bác Hồ được bầu với lá phiếu cao nhất.
Nhưng rồi giặc Pháp gây hấn để mong chiếm lại nước ta, bắt dân ta làm nô lệ. Theo tiếng gọi của Bác Hồ, toàn dân ta đã nhất tề đứng lên tiến hành cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Toàn quốc kháng chiến bùng nổ ngày 19-12-1946. Phong trào BDHV tưởng chừng tan vỡ, nhưng không. Khi đã lên chiến khu Việt Bắc, Bác Hồ vẫn không quên lãnh đạo toàn dân tiếp tục chiến thắng giặc dốt. Bác nói: “Diệt giặc dốt như diệt giặc Pháp, dốt nát cũng là tên địch. Địch dốt nát giúp cho địch ngoại xâm. Địch dốt nát tấn công ta bằng tinh thần cũng như địch thực dân tấn công ta bằng vũ lực” (Báo Công Dân-LKIII-1948).
![]() |
|
Cổ vũ Bình dân học vụ năm 1946. Ảnh tư liệu |
Và thế là phong trào BDHV tiếp nối kinh nghiệm quý báu trong năm đầu hoạt động, tiếp tục thiên anh hùng ca của mình. Các lớp học đi theo đồng bào tản cư kháng chiến, đi theo các đoàn dân công tiếp vận, theo tuyến giao liên, bên bếp lửa nhà sàn, trong những lán nhỏ dưới rừng già và thôn bản. Bài Làng Nghẹt trong rừng đêm của nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh đã thể hiện rõ: Tình sau trước, nghĩa trước sau/Em cây say chữ nên chau chuốt cành/Đêm đêm hoa dại nghiêng mình/Lắng nghe chị Mán ngâm kinh i – t”. BDHV còn bám trụ trong lòng địch, trong các vùng tạm bị chiếm.
Cho đến sau chiến thắng Điện Biên Phủ vang dội địa cầu, quân dân ta về tiếp quản Thủ đô năm 1954, sau kế hoạch 3 năm (1956-1958), tổng kết lại phong trào BDHV, nhân dân miền Bắc đã xóa xong nạn mù chữ, được cấp giấy chứng nhận. Thủ đô Hà Nội mở đại hội mừng công. Bác thay mặt Đảng và Nhà nước trao cho Thủ đô nhiệm vụ bổ túc văn hóa cho 6 vạn người. Bác thân mật phân tích: “Thủ đô đã căn bản hoàn thành nhiệm vụ xóa mù chữ. Nhưng căn bản nghĩa là chưa hoàn toàn.Vậy phải làm nốt cho xong hoàn toàn. Ví như người muốn đi xa, cần đi bằng ô-tô, xe buýt hay tàu hỏa thì phải ra bến, ra ga. Mà nói mới căn bản đến nhà ga thì có nghĩa là chưa đến nhà ga. Chưa đến nhà ga thì không thể lên tàu để đi xa được. Cho nên phải làm nốt việc xóa nạn mù chữ, rồi tiến lên bổ túc văn hóa cho mọi người… Bổ túc văn hóa phải có nội dung thiết thực, có ích cho người học, có ích vừa về mặt văn hóa, vừa cả về mặt sản xuất và công tác…”.
Lời dạy ân cần của Bác lại dấy lên một phong trào mới: Vừa diệt nốt nạn mù chữ, vừa tiến lên bổ túc văn hóa (BTVH) một cách rầm rộ.
“Việt Nam hiếu học hơn bất cứ một dân tộc nào trên trái đất”
Chính vì được chứng kiến cảnh học tập có một không hai đó trong những ngày khói lửa chiến tranh chống ngoại xâm cũng như trong hòa bình xây dựng miền Bắc mà bạn bè khắp năm châu tới thăm Việt Nam, hầu hết đều “đòi” đi thăm các lớp xóa mù chữ và bổ túc văn hóa ở Hà Nội. Thăm rồi, chứng kiến tận mắt, tiếp xúc với giáo viên, học viên, bạn bè quốc tế rất xúc động và đã có những lời phát biểu rất chân thành. Chị Sác-lốt là một nhà báo Mỹ. Chị đã đi nhiều nơi, nhiều nước. Nhưng đến Hà Nội, sau khi đi thăm Văn Miếu, Hồ Tây, dự các lớp học của công nhân, cán bộ, chị tâm sự rằng chị không muốn rời đi đâu nữa. Trước ngày chị phải “luyến tiếc” từ biệt đất nước ta, chị đã ghi: “Nhân dân Việt Nam hiếu học hơn bất cứ một dân tộc nào trên trái đất. Truyền thống “Văn Miếu” của Thủ đô Hà Nội còn như sống mãi trong các lớp học buổi tối mà tôi đã được thăm.Và khi ấy ở đất nước các bạn, trường học cũng thành một mặt trận nữa trong cuộc chiến đấu để đánh bại kẻ thù chung: Điều này khích lệ và cổ vũ xiết bao…”. Tự hào thay một thời hoạt động sôi nổi, tích cực, có tiếng vang trên thế giới của ngành giáo dục nước ta!
Nhưng rồi, đế quốc Mỹ bắt đầu chiến tranh phá hoại miền Bắc nước ta. Với khí thế “Học BTVH để chống Mỹ, cứu nước”, phong trào rầm rộ khắp nơi. Ở Liên khu 4, nơi chiến tranh ác liệt nhất, có khẩu hiệu “đội bom đi học”. Sau ngày ký kết Hiệp định Paris (1-1973), Mỹ rút quân, ngụy lùi bước, các lớp BDHV-BTVH phát triển nhiều. Ngày 30-4-1975, miền Nam được hoàn toàn giải phóng. Lễ phát động chiến dịch xóa mù chữ (XMC) gắn với sự kiện trọng đại chuẩn bị và tiến hành Tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung của cả nước Việt Nam thống nhất. Khẩu hiệu “Toàn dân biết chữ để bầu Quốc hội thống nhất” tạo khí thế mạnh mẽ cho công tác XMC, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, vùng núi non hiểm trở.
Đến ngày 28-12-2000, Nhà nước ta đã tuyên bố với nhân dân cả nước và với thế giới, rằng Việt Nam đã thực hiện xong việc xóa nạn mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học trong cả nước theo chuẩn quốc gia. Đó là một mốc son trong lịch sử giáo dục nước nhà. Ước mơ ngàn đời chiến thắng giặc dốt căn bản đã được thực hiện, là cơ sở để xóa đói giảm nghèo, giảm mọi tệ nạn xã hội làm cho mặt bằng dân trí của nước ta được nâng lên một bước khá dài.
Nguyễn Thìn Xuân
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận