QĐND Online - Lam Sơn – quê hương người Anh hùng dân tộc Lê Lợi, thủ lĩnh của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1417-1428) đánh đổ ách thống trị nhà Minh, giành độc lập cho dân tộc thế kỷ XV, nay thuộc xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa...
QĐND Online - Lam Sơn – quê hương người Anh hùng dân tộc Lê Lợi, thủ lĩnh của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1417-1428) đánh đổ ách thống trị nhà Minh, giành độc lập cho dân tộc thế kỷ XV, nay thuộc xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
Trong buổi đầu thời thuộc Minh, phủ Thanh Hóa (tỉnh Thanh Hóa ngày nay) gồm 7 huyện trực thuộc gồm: Cổ Đằng, Cổ Hoằng, Đông Sơn, Cổ Lôi, Vĩnh Ninh, Yên Định, Lương Giang và 3 châu là châu Thanh Hóa (gồm 4 huyện: Nga Lạc, Tố Giang, An Lạc, Lỗi Giang), châu Ái (gồm 4 huyện: Hà Trung, Thống Ninh, Tống Giang, Chi Nga), châu Cửu Chân (gồm 4 huyện: Cổ Bình, Kết Duyệt, Duyên Giác, Nông Cống). Về sau, nhà Minh sáp nhập những huyện nhỏ lại thành những huyện hay châu lớn hơn và năm 1417 tách châu Quỳ thuộc phủ Diễn Châu cho lệ vào phủ Thanh Hóa. Cho đến trước cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, phủ Thanh Hóa còn 6 huyện trực thuộc là: Cổ Đằng, Đông Sơn, Cổ Lôi, Vĩnh Ninh, An Định, Lương Giang và 4 châu là Thanh Hóa, Ái, Cửu Châu và Quỳ.
Lam Sơn thuộc huyện Cổ Lôi, nằm về tả ngạn sông Chu, cách thành phố Thanh Hóa ngày nay khoảng 50km, phía dưới Bái Thượng 3km. Lam Sơn phía tây giáp miền thượng du Thanh Hóa với núi rừng trùng điệp, đầu nguồn các sông Mã, sông Chu, ngày nay là vùng Thường Xuân, Ngọc Lạc, Lang Chánh, Cẩm Thủy, Bá Thước, Quan Hóa. Những ngọn núi hiểm trở, những cánh rừng đại ngàn của hệ núi Pù Rinh ngang dọc xưa kia là địa bàn hoạt động kín đáo của nghĩa quân Lam Sơn. Trong những năm đầu, lực lượng mới tập hợp, còn non yếu, núi rừng hiểm trở này đã che chở, đùm bọc và nuôi dưỡng nghĩa quân, nhiều khi còn bảo vệ nghĩa quân thoát khỏi nhiều cuộc bao vây càn quét lớn của địch, đồng thời tạo địa hình thuận lợi cho nhiều trận phục kích tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch.
Lam Sơn có dòng sông Chu chảy qua. Sông Chu tiếp nước nhiều sông nhỏ đổ vào như sông Cao từ tây Lang Chánh tới, sông Đại từ nam Trường Xuân lại và sông Âm có nguồn từ Quan Hóa chảy vào. Sông Chu qua Lam Sơn, lòng khá rộng, mùa mưa, nước to có khi tới hơn 300m. Từ Lam Sơn chảy xuống, sông Chu chảy qua các huyện Thọ Xuân, Thiệu Hóa, đến ngã ba Bông nhập vào với sông Mã xuôi ra biển. Từ Lam Sơn có thể ngược dòng lên tận Thường Xuân, Lang Chánh rồi vào Nghệ An hoặc sang Lào. Cũng từ Lam Sơn xuôi dòng đến các huyện Thiệu Hóa, Đông Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hóa, rồi về miền biển giàu có, đông dân.
Rừng núi và sông nước Lam Sơn là như vậy. Nghĩa quân đóng ở đây có thể tỏa xuống miền đồng bằng, có thể di chuyển lên miền thượng lưu sông Mã và khi cần thiết có thể rút lên miền tây, dựa vào thế núi Pù Rinh để bảo toàn lực lượng.
Từ rất sớm, khi còn là trại chủ, Lê Lợi đã nhận thấy Lam Sơn là đất địa linh. Gặp khi quân Minh xâm chiếm nước ta, ông nuôi chí lớn dựng cờ khởi nghĩa ngay trên trang trại của dòng họ mình. Quan quân nhà Minh lo sợ, tìm cách phủ dụ ông, hứa cho làm quan. Lê Lợi không chịu khuất, thường nói: Làm trai nên giúp nạn lớn, lập công to để tiếng thơm muôn đời, chớ sao lại bo bo làm đầy tớ người. Ông giấu mình ở chốn sơn lâm, lo kết nạp hào kiệt, chiêu tập quân sĩ, đến cuối năm Đinh Dậu (1417) nêu cao cờ nghĩa, xưng Bình Định Vương. Dưới cờ giải phóng do ông lãnh đạo, lần hồi đông đủ mặt anh tài góp sức: Đinh Lễ, Đinh Liệt, Nguyễn Xí, Nguyễn Thân (Lê Lai), Bùi Quốc Hưng, Trịnh Khả, Lê Văn An, Trần Nguyên Hãn, Nguyễn Trãi… Trải hơn chục năm gian khó “Khi Lam Sơn lương cạn mấy tuần/Lúc Khôi huyện quân không một lữ”, từ một cuộc khởi nghĩa mang tính địa phương phát triển lên thành chiến tranh giải phóng trên cả nước, năm 1427, nghĩa quân - quân giải phóng Lam Sơn dưới sự chỉ huy của Lê Lợi đóng quân ở Bồ Đề (nay thuộc quận Long Biên, Hà Nội) uy hiếp quân Minh trong thành Đông Quan, dồn toàn lực đánh một trận để đời ở Chi Lăng, chém chết Liễu Thăng ở gò Đảo Mả, bắt sống hai tướng Hoàng Phúc và Thôi Tụ tại Xương Giang, giết tướng Lương Minh, khiến Lý Khánh tự tử, đuổi Mộc Thạch trốn chạy về nước. Kết quả: Tổng tư lệnh quân Minh là Vương Thông phải viết thư cầu hòa, rồi cuối cùng đành ôm hận rút 86.000 quân Minh về nước. Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi vua, tên thụy là Lê Thái Tổ, đặt hiệu nước là Đại Việt, hiệu năm là Thuận thiên, đô ở Đông Kinh (Hà Nội)./.
HÀ THÀNH
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận