Chủ Nhật, 23/08/2009, 21:38

    Dòng suối tâm hồn miền núi

    Từ bao đời nay, đồng bào các dân tộc Tày, Nùng thường coi những người với khả năng đặc biệt là “ông Then”, “bà Then” thông qua nghi lễ diễn xướng, là cầu nối giữa hai thế giới trần gian và tâm linh...

    No image available
    Hát then cấp sắc. Ảnh: CÔNG HOAN

    Từ bao đời nay, đồng bào các dân tộc Tày, Nùng thường coi những người với khả năng đặc biệt là “ông Then”, “bà Then” thông qua nghi lễ diễn xướng, là cầu nối giữa hai thế giới trần gian và tâm linh. Họ còn là những nghệ sĩ dân gian khi lời hát, tiếng đàn của họ bay khắp bản trên, xóm dưới nuôi dưỡng tâm hồn người miền núi. Năm nay là lần thứ 3, Liên hoan đàn tính-hát then được tổ chức tại tỉnh Bắc Kạn, chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc Nông Thị Nhình, nguyên cán bộ nghiên cứu của Viện Âm nhạc Việt Nam và là thành viên Ban giám khảo của hai Liên hoan trước.

    * Dân tộc Tày, Nùng có rất nhiều làn điệu dân ca, vậy nét khác biệt của hát then là gì, thưa bà?

    Nhà nghiên cứu Nông Thị Nhình: Ðối với các dân tộc Tày, Nùng nếu si, lượn là làn điệu dân ca giao duyên chỉ có lời, thì then là hình thức nghệ thuật tổng hợp: có lời, có nhạc, có hóa trang và có biểu diễn. Hát then mang tính nghi lễ, nên được hát vào những dịp trọng đại của làng xã như: cầu mùa, hội làng, hội Lồng Tồng (hội xuống đồng); trong cả những lúc buồn, an ủi người ốm, khóc người chết, động viên người đang phiền muộn...

    Lời then vốn là những câu chữ được dân gian chắt lọc, gọt giũa của những bản trường ca, tích chuyện. Trong mỗi cuộc then (do 1 người diễn trong 1 ngày) hay đại lễ then (gọi là Lẩu then có khi diễn ra khoảng 3 ngày 3 đêm và được nhiều người biểu diễn), thì các trường ca, câu chuyện được các bà then (người diễn) diễn xướng theo một chặng đường mang màu sắc tín ngưỡng, tường thuật lại cuộc hành trình lên thiên giới để cầu xin Ngọc Hoàng giải quyết một vấn đề gì đó cho gia chủ.

    Các bản trường ca thường gồm nhiều chương đoạn với độ dài ngắn và nội dung chi tiết ít nhiều khác biệt. Bản dài nhất đã sưu tầm được dài tới 4.949 câu với 35 chương đoạn. Lời của hát then giàu tính nhân văn, vừa là những câu thơ trữ tình, giàu nhạc điệu, vừa là lời khuyên răn, khích lệ; vừa là những kinh nghiệm về đối nhân xử thế...

    Người biết hát then, dĩ nhiên là phải biết gảy đàn tính, bởi âm thanh, làn điệu của nó hết sức phong phú, khi réo rắt, khi du dương, khi thì nhịp nhàng thanh thản; khi rộn rã, vui tươi; khi thầm thì như tiếng suối gọi, khắc khoải như những mối mong chờ... Cho nên nghe đàn tính, nghe lời hát then, người ta cứ thấy trong đó có một cuộc sống của mình.

    * Đến bây giờ chúng ta đã thống kê hát then-đàn tính có bao nhiêu làn điệu, thưa bà?

    Nhà nghiên cứu Nông Thị Nhình: Chưa có một cuộc thống kê cụ thể nào về loại hình nghệ thuật này. Bởi ở mỗi vùng quê đều có những làn điệu hát then khác nhau, mỗi vùng then lại có một câu chuyện khác nhau, nên chúng đa dạng. Nhưng nhìn một cách tổng thể, then có mấy loại hình thể hiện với những chức năng chính. Ðó là Then Kỳ Yên (cầu an), Then cầu mùa, Then chúc tụng, Then chữa bệnh, Then cấp sắc (Lẩu then). Ðặc biệt là, hằng năm khi bước vào năm mới, người Tày, Nùng có những nghi lễ để cầu mong sự an khang, may mắn, sức khỏe... Những gia đình có điều kiện sẽ tổ chức lễ Then Kỳ Yên là nhằm mục đích ấy. Còn đối với Then cầu mùa, với mục đích là xin các vị thần thiên nhiên, thần mưa, thần nắng cho mưa thuận gió hòa.

    * Vậy các cuộc diễn then hiện nay có khác nhiều so với trước kia, và nghệ thuật này có còn phổ cập trong nhân dân, hay chỉ có dịp lễ, liên hoan người ta mới mang ra diễn, thưa bà?

    Nhà nghiên cứu Nông Thị Nhình: Các cuộc then hiện nay đã được rút ngắn chặng so với trước, nhưng vẫn giữ được chặng chính, nội dung chính của câu chuyện. Ngày nay, mỗi cuộc then thường chỉ diễn ra từ đêm hôm trước đến trưa ngày hôm sau, và do 1 người diễn. Trước có những cuộc diễn ra 3 ngày, 3 đêm và 5-7 người thay nhau diễn.

    Có thể khẳng định, loại hình nghệ thuật này vẫn có sức sống mãnh liệt trong dân, bởi khi bạn đến bất cứ làng, bản nào của các tỉnh đông bắc không chỉ  trong những ngày hội, lễ tết, mà đơn giản là cuộc đón bạn từ xa đến, bạn sẽ bắt gặp ngay hình ảnh những thiếu nữ ôm cây đàn tính, hát lên những làn điệu du dương. Và dường như, nó được coi là “đặc sản” riêng của các dân tộc này. Theo tôi, nghệ thuật này đang có đà khởi sắc. Ví như tỉnh Lạng Sơn, hầu hết các xã, phường, thị trấn, làng, bản đều có các tổ, đội hát then.

    Nhà nghiên cứu âm nhạc Nông Thị Nhình (quê Lạng Sơn) đã có hơn 30 năm nghiên cứu về nghệ thuật hát then-đàn tính. Sau nhiều chuyến đi điền dã, sưu tầm và nghiên cứu nghệ thuật này, năm 2004 bà đã biên soạn và ra mắt độc giả cuốn sách “Nét chung và riêng của âm nhạc trong diễn xướng Then Tày, Nùng”.

    Không chỉ có người Tày, Nùng mới hát then, mà một vài tộc khác như Mông, Kinh ở các tỉnh phía Bắc cũng tiếp nhận thể loại hát này trong đời sống tinh thần của mình.

    Còn nhớ, tại Liên hoan hát then-đàn tính lần thứ 2 tại Cao Bằng (2007) còn hội tụ được nhiều CLB hát then ở Đắc Lắc, TP Hồ Chí Minh về diễn. Điều đó chứng tỏ, dù sống ở đâu thì nghệ thuật này vẫn có sức sống, các thế hệ vẫn tự nguyện theo thầy học hát then.

    Chính những cuộc liên hoan về nghệ thuật này là yếu tố cho biết hát then-đàn tính đã có sự tiếp nối. Ở cuộc liên hoan, những nghệ nhân già có cơ hội thể hiện với đông đảo công chúng làn điệu cổ mà mình đang sở hữu, họ còn “khoe” tài năng các hậu bối của mình-đó là những gương mặt tài năng trẻ, là những “con then” đang ngày đêm học hỏi để kế tục những làn điệu truyền thống độc đáo này. Và ở hai liên hoan trước, chúng tôi rất mừng vì biểu diễn trên sân khấu đều là những gương mặt trẻ.

    * Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang có kế hoạch xây dựng hồ sơ đề án đệ trình UNESCO công nhận hát then là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Vậy nghệ thuật này đã có đủ yếu tố để lập hồ sơ, thưa bà?

    Nhà nghiên cứu Nông Thị Nhình: Hiện nay chưa có bất cứ giáo trình nào dạy hát then-đàn tính, việc dạy trong các trường cũng mới chỉ dừng lại ở truyền đạt theo kinh nghiệm. Vì vậy, nhiều ý kiến cho rằng, cần phải đẩy mạnh công tác sưu tầm, lưu giữ, lập hồ sơ pháp lý và khoa học các làn điệu, lời thơ và nghi thức hát then truyền thống của từng địa phương, ghi chép các bài truyền miệng thành văn bản và đánh giá từng tác phẩm then cụ thể, thông qua các bảo tàng hoặc trung tâm nghiên cứu.

    Tôi cho rằng, bảo tồn nghệ thuật dân tộc trước hết phải bắt đầu từ trách nhiệm của người dân. Còn lập hồ sơ trình UNESCO, thì vấn đề là xây dựng vào thời điểm nào, chứ hát then-đàn tính hoàn toàn xứng đáng được vinh danh.

    VƯƠNG HÀ (Thực hiện)
    host

    Ý kiến bạn đọc

    0 bình luận
    Đang tải reCAPTCHA...