Cách đây ít năm, nhân chuyến công tác, tôi về thăm lại chiến trường xưa ở Đình Cương, Nghĩa Hành, Quảng Ngãi. Chị Liên và anh Thanh, hai người từng là du kích thời chiến tranh. Anh là xã đội trưởng, chị là xã đội phó, cả hai từng là dũng sĩ...
Cách đây ít năm, nhân chuyến công tác, tôi về thăm lại chiến trường xưa ở Đình Cương, Nghĩa Hành, Quảng Ngãi. Chị Liên và anh Thanh, hai người từng là du kích thời chiến tranh. Anh là xã đội trưởng, chị là xã đội phó, cả hai từng là dũng sĩ. Trong ý thức của tôi, tuổi đời của anh chị còn trẻ, lại bằng vào khả năng công tác, vị trí của anh chị trước đây, có lẽ họ đang giữ vị trí nào đó quan trọng ở huyện thậm chí gì đó trên tỉnh..., và hẳn họ đang có cuộc sống sung túc, khá giả… Nhưng ngược với dự đoán, anh chị đã về làm thường dân, sống giản dị trong một căn nhà nhỏ, nằm bên cạnh một bãi tha ma. Thật lòng, tôi không nghĩ lại gặp anh chị trong hoàn cảnh này… Đêm, tôi và anh Thanh cùng chung giường ngủ, tôi băn khoăn hỏi: “Sao anh chị về nghỉ sớm thế, em tưởng anh chị phải giữ chức gì đó to lắm?”. Anh Thanh thở dài, trả lời: “Chiến tranh xong là xong, còn tiếc cái gì. Mình chỉ đánh giặc giỏi, học hành không có, làm sao công tác”. “Người ta phải tạo điều kiện cho anh chị đi học chứ, cán bộ cốt cán mà!”. “Làm gì có chuyện đó, lãnh đạo chính quyền bây giờ là những người tập kết ở Bắc về. Họ lo đủ chuyện. Thời của mình qua rồi chú ơi!…”. Rồi anh kể, khi chiến tranh kết thúc, cuộc sống nghèo khổ khốn khó, tiền lương không đủ sống, trợ cấp xã hội vài gói mì tôm, vài ki-lô-gam gạo sống thoi thóp. Cả hai anh chị công tác ở xã ít lâu rồi xin nghỉ hẳn, dẫn nhau đi làm rẫy. Anh bảo cũng may, hồi ấy cố sống cố chết làm rẫy mới có tiền nuôi cho hai đứa con học hành, chứ nếu không các cháu bây giờ thất học thì ra đứng đường…
Tôi rủ anh khi nào có thời gian ra Bắc thăm Hà Nội, vào Lăng viếng Bác. Anh bảo: “Chú nói như trên trời, giờ anh chị làm còn chưa đủ ăn, tiền đâu ra Bắc chơi. Rồi anh kể, những người bạn du kích năm xưa giờ mỗi người một hoàn cảnh, một số phận, cái nghèo vẫn đeo bám từng ngày, một lần ra thành phố Đà Nẵng, vào Thành phố Hồ Chí Minh đã là mơ ước, nói chi đến Hà Nội…
Hôm sau, tôi cùng anh Thanh đi các nghĩa trang thắp hương cho bạn bè cùng đơn vị, nhân thể ghé thăm má Sáu. Nhà má Sáu ngày xưa là trạm tiền phương đón nhận thương binh liệt sĩ của quân chủ lực từ mặt trận về. Chồng và các con má đều là liệt sĩ. Nhà má bây giờ là căn nhà tình nghĩa do nhân dân xã góp tiền xây dựng, có hai gian cấp 4, một gian má cho thuê bán quan tài, một gian vừa là chỗ ngủ vừa làm bếp. Má giờ già yếu, gầy khô, mắt mờ tai điếc. Gặp tôi má khóc rức. Má bảo: “Suốt từ hồi chiến tranh tới giờ mới thấy thằng bộ đội miền Bắc vô, chúng mày đi đâu lâu quá vậy. Gặp lại chúng mày một lần má chết cũng vui”. Anh Thanh bảo, sau chiến tranh má Sáu chỉ quẩn quanh ra, vào ở vùng chiến trường xưa này. Tiền nhà nước trợ cấp không đủ chi tiêu, má cho ngươi ta thuê lại gian nhà ngoài, lấy tiền tiết kiệm chờ khi đau ốm…
Buổi trưa hôm ấy, tôi nhờ anh chị Thanh mời mấy anh em du kích thời chiến tranh đến ăn bữa cơm, gọi là liên hoan nhưng thực ra là để có dịp gặp lại nhau. Thời gian và cuộc sống đã lùi xa, những người bạn cùng chiến hào mà tôi gặp lại trưa hôm đó râu tóc đã bạc, gương mặt già nua, nước da sạm nắng, chai sạn. Giờ họ đều đã về đời thường. Không ai có khả năng kinh tế để ra Bắc thăm Hà Nội và vào Lăng viếng Bác, dù đó, nói như anh Thanh, là ước nguyện của cuộc đời…
Năm 2004, trong cuộc gặp gỡ những người lính trận nhân 30-4, tôi kể lại câu chuyện vào thăm chiến trường xưa và cuộc hội ngộ với anh em du kích. Nghe xong, bạn bè tôi bàn với nhau góp tiền mời anh em du kích ra Hà Nội, Hải Phòng chơi một lần… Tôi không bao giờ quên, cái buổi tối tháng 4 mưa tầm tã năm ấy, anh Nguyễn Ngọc Chữ, nguyên là tiểu đoàn trưởng của tôi cùng mấy người đồng đội ở Hà Nội, Hải Phòng phóng xe đi mua mấy chục gói bánh gai và chè Thái Nguyên mang đến tận chỗ anh em du kích nghỉ, làm quà về miền Nam. Những giọt nước mắt, những tiếng nấc nức nở khi chia tay các anh chị sau một tuần ra thăm miền Bắc, bằng tiền đóng góp của đồng đội cũ…
Ấy là chuyện đồng đội của chúng tôi quê ở miền Nam. Còn những người lính Bắc trở về sau chiến tranh? Tôi nhớ năm 2004, nhà văn Phạm Ngọc Tiến, không giàu có gì, nhưng vì mong mỏi của đồng đội cùng sống chết trong chiến tranh, muốn một lần về thăm lại chiến trường xưa, nhưng không có tiền, anh đã đứng ra quyên góp, tổ chức cho đồng đội mình vào tận Cần Thơ, chiến trường cũ của anh… Nghĩa cử này, thật cảm động.
Mới rồi, tôi nghe một bạn đồng nghiệp kể về lễ kỷ niệm chiến thắng cầu Hàm Rồng, Thanh Hóa rất hoành tráng, trong đó có buổi gặp mặt các chiến sĩ chiến đấu anh dũng thời chiến tranh. Hầu hết họ đều đã là dân thường, tuổi cao sức yếu và cuộc sống vẫn đầy rẫy khó khăn. Có người cho tới nay chưa một lần được ra thăm Lăng Bác, chưa một lần biết tới cuộc sống sung túc, phồn hoa của thời hiện đại…
Vậy nhưng, hội hè lễ lạt ở nhiều địa phương vẫn diễn ra rầm rộ, cho dù đã có chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ và dư luận báo chí nói nhiều. Thế nhưng, “nói thì cứ nói”, ngày lễ linh đình, hình thức; tốn kém, lãng phí tiền của, mà hiệu quả không được nhiều vẫn diễn ra. Có nhà báo vì liên tục được mời tới các địa phương dự lễ kỷ niệm đã nói đùa: Các tỉnh giờ đua nhau làm kỷ niệm, tỉnh này cứ phải làm to hơn tỉnh kia, hoành tráng hơn tỉnh kia, quan trọng , quy mô hơn mới “oách”, “con gà tức nhau tiếng gáy” mà…
Giá như, lại giá như, số tiền ấy mà các cụ cựu chiến binh có được để gây một quỹ riêng từ cấp xã tới trung ương, thì việc tổ chức cho các cụ từ miền Nam ra thăm Lăng Bác, hay từ miền Bắc vào thăm lại chiến trường xưa đâu khó khăn gì, và cũng đâu phải nhờ đến đồng tiền “nghĩa cử” của bạn bè đồng đội cũ, cũng nghèo không hơn kém nhau bao nhiêu?…
Mã Pí Lèng
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận