QĐND - Thời gian gần đây dư luận xôn xao với hiện tượng “thơ nhập đồng” của Hoàng Quang Thuận, tác giả tập Thi vân Yên Tử được Tạp chí Nhà văn - cơ quan của Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức hội thảo. Tác giả Hoàng Quang Thuận là một Giáo sư - Tiến sĩ, Viện trưởng Viện công nghệ viễn thông, tuyên bố mình không phải là tác giả tập thơ mà “tiền nhân mượn bút” ông để viết thơ...
QĐND - Thời gian gần đây dư luận xôn xao với hiện tượng “thơ nhập đồng” của Hoàng Quang Thuận, tác giả tập Thi vân Yên Tử được Tạp chí Nhà văn - cơ quan của Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức hội thảo. Tác giả Hoàng Quang Thuận là một Giáo sư - Tiến sĩ, Viện trưởng Viện công nghệ viễn thông, tuyên bố mình không phải là tác giả tập thơ mà “tiền nhân mượn bút” ông để viết thơ.
Cắt nghĩa hiện tượng này như thế nào?
Việc tổ chức hội thảo thơ là một việc làm có ý nghĩa nếu vì mục đích tốt đẹp. Việc mọi người làm thơ là sự đáng khuyến khích vì thơ là nghệ thuật cao quý biểu hiện một cách tinh tế những trạng thái cung bậc tình cảm mà khó có hình thức nghệ thuật nào theo kịp nên thơ có tác dụng cân bằng đời sống tinh thần vốn đang gặp những căng thẳng, áp lực. Điều này lý giải có nhiều nhà khoa học tự nhiên hay làm thơ và có thơ hay (Lô-mô-nô-xốp, Nga, Viện sĩ Vũ Tuyên Hoàng là giáo sư nông học nổi tiếng - Việt Nam; Phó giáo sư Văn Như Cương là giảng viên toán đầu ngành - Việt Nam…). Nhưng việc phủ lên màn khói kỳ bí trong việc sáng tạo thơ như tác giả Hoàng Quang Thuận thì cần phải nghiêm túc xem xét.
Trong sáng tạo văn chương có hiện tượng “người khác viết hộ”, sự thực đến đâu thì chưa rõ nhưng chính các tác giả đã từng thừa nhận. Pu-xkin từng nói mình sáng tác ngay trong giấc mơ, khi ngủ ông thường để đầu giường tờ giấy và cây bút, mơ thấy một ý, một chi tiết, một câu thơ hay là ông vùng dậy ghi lại. Mai-a-cốp-xki cũng quả quyết, có khi cảm hứng sáng tác hình thành trong giấc chiêm bao. Thậm chí Hô-me, tác giả của tuyệt tác sử thi cổ đại là I-li-át và Ô-đi-xê cả quyết cảm hứng sáng tác của mình là do thần Dớt và thần A-pô-lông ban cho… Văn chương hiện đại xứ Việt ta thì ai cũng biết câu chuyện của nhà thơ Hoàng Cầm được một người con gái nào đó đọc cho mình chép lại bài thơ Bên kia sông Đuống. Cụ thể hơn là thế này: Sông Đuống chia tỉnh Bắc Ninh làm hai phần. Quê hương, gia đình Hoàng Cầm ở nam phần tỉnh, ngay bên bờ sông Đuống. Một đêm giữa tháng 4-1948, khi ấy Hoàng Cầm đang công tác ở Việt Bắc thì nghe tin dữ: giặc Pháp đang đốt phá, cướp bóc quê hương, nơi có những người thân ruột thịt mình đang sinh sống. Xúc động khôn tả, ông cầm giấy bút viết thơ như trong vô thức, ngay đêm ấy, bài thơ Bên kia sông Đuống ra đời. Về sau ông kể lại, cứ như có một giọng nữ đọc cho ông chép bài thơ từ đầu đến cuối…
Cắt nghĩa hiện tượng này như thế nào?
Không có gì bí hiểm. Đây chính là cơ chế thuộc về bản chất quá trình sáng tạo của nghệ sĩ.
Thông thường người ta có hai cách giải thoát cảm xúc, bằng thể xác: Qua phản ứng cơ thể, như vẻ mặt (giận dữ hay khoan hòa…), lời nói (gay gắt, nhẹ nhàng…)…; bằng tinh thần: Chủ yếu bằng tưởng tượng. Chỉ có tưởng tượng mới chuyển tải cảm xúc, tư tưởng thành các hình tượng nghệ thuật. Ai cũng có trạng thái tâm lý tưởng tượng nhưng ở nghệ sĩ đòi hỏi mãnh liệt, cao độ hơn nhiều. Chính vì thế, tâm lý học sáng tạo rất coi trọng tưởng tượng: “Ngọn nguồn của tác phẩm nghệ thuật là hoạt động tự do của tưởng tượng”(Hê-ghen), “Nghệ thuật là dựa vào trí tưởng tượng mà tồn tại”(Gorki), “Thơ là nghệ thuật kỳ diệu nhất của trí tưởng tượng”(Sóng Hồng)… Nhưng tưởng tượng phải được nâng đỡ của đôi cánh cảm hứng thì người nghệ sĩ mới có thể phát tiết ra thành tác phẩm. Cảm hứng là trạng thái tình cảm sâu sắc hưng phấn cao độ, có thể do người nghệ sĩ tạo ra hoặc nó tự tìm đến để thôi thúc người viết không thể không viết ra những điều đã nung nấu cháy bỏng trong lòng. Vì cảm hứng là tình cảm căng thẳng, say mê khác thường nên không kéo dài lâu, không bền, là giây phút thăng hoa hiếm hoi nên người ta thường ví cảm hứng với “tia chớp”, “tia lửa điện” là vì thế. Có thể ví cảm hứng như cái chìa khóa để mở ra thế giới tưởng tượng và người nghệ sĩ bước vào đó để sáng tạo.
Chính vì tưởng tượng và cảm hứng là những gì trừu tượng nên cả xưa và nay người ta hay thần bí hóa chúng. Mỹ học phương Đông cho rằng, cảm hứng đến là thời khắc thiên nhân hợp nhất, người và đất trời hòa vào làm một. Mỹ học phương Tây cổ điển còn siêu hình hơn khi cho rằng sáng tác là lúc thần linh nhập vào người (Pla-tông), sau này thì cực đoan như giải thích cảm hứng bắt nguồn từ bản năng tính dục (Phơ-rớt)…
Tưởng tượng luôn gắn liền với sự trải nghiệm. Nghệ thuật là kết tinh của các kinh nghiệm sống. Người xưa nói thơ cùng dễ hay, nghĩa là thơ của những người cùng khổ mới dễ hay là theo ý này. Cụ Nguyễn Du từng viết: Những điều trông thấy mà đau đớn lòng, phải qua thật nhiều những điều trông thấy thì mới có nỗi đau để kết thành tác phẩm. Tố Hữu lại viết về chính Nguyễn Du: Trải bao gió dập sóng dồi của cuộc đời Tố Như mới có thể kết lại thành “Truyện Kiều” với Tiếng thơ ai động đất trời. Người nghệ sĩ phải có cái tình thật. Người nay nói thơ đi từ trái tim và trở về với trái tim là có ý nhấn mạnh đến cái thật, cái chân thành trong thơ.
Bài thơ Bên kia sông Đuống là bài thơ để đời của tác giả. Nguồn gốc ra đời của tác phẩm tưởng chừng là thần bí nhưng hạt nhân của nó lại là một điều dễ hiểu: Sự gặp gỡ tuyệt vời giữa tưởng tượng, trải nghiệm (những nỗi đau, nỗi nhớ, niềm tự hào, niềm thương về quê hương luôn cháy bỏng, luôn thao thức thường trực trong tâm hồn nhà thơ) với cảm hứng (thời điểm nghe tin quê mình bị giặc đốt phá). Người Việt ta có câu thật triết lý: Người làm sao của chiêm bao làm vậy. Ý nghĩa phổ quát rộng rãi của câu này có thể là: Người ta thế nào thì suy nghĩ tưởng tượng ra vậy. Nhà văn sống thế nào, tài năng thế nào thì có tác phẩm như thế. Và lại có những câu này để nói về một quy luật tâm lý phải có yêu thật sâu sắc trong thực tế trải nghiệm thì mới có cái yêu thật nồng nàn trong mơ: Người tình em để trong cơi/ Nắp vàng đậy lại để nơi giường thờ/ Đêm qua ba bốn lần mơ/ Chiêm bao thì thấy, dậy sờ thì không. Một cô gái bình thường vẫn có thể yêu một cách vô thức (vì cô ta yêu thật, yêu sâu sắc trong đời thực), thì một nhà văn sáng tạo tác phẩm trong mơ là điều bình thường. Miễn là nhà văn đó yêu thật, đau thật!
Như vậy, trở lại với hiện tượng “thơ nhập đồng” ở trên ta thấy không lạ. Nhưng lạ ở chỗ chỉ một đêm mà tác giả sáng tác trong vô thức tới hơn một trăm bài thơ. Điều này là không thật. Bởi mỗi bài thơ là một cấu trúc chặt chẽ của các chi tiết, hình ảnh thơ luôn châu tuần xung quanh một tứ thơ vững chãi. “Thần hứng” chỉ có thể giúp cho tác giả viết ra một vài câu thơ đắt, độc đáo, mới mẻ, may lắm thì cả bài (như trường hợp Hoàng Cầm). “Thần hứng” mà giúp cả trăm bài thì không còn là “thần” nữa, bởi đã là “thần” thì luôn “thoắt hiện”, “thoắt đi”!!!
Thanh Nguyên
Ý kiến bạn đọc
0 bình luận